View Full Version : Bia Tiến Sĩ [Văn Miếu Hà Nội]
Tử Hà
04-14-09, 09:23:57 PM
Bia số 1
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA NHÂM TUẤT NIÊN HIỆU ĐẠI BẢO NĂM THỨ 3 (1442)
Cập nhật lúc 10h16, ngày 25/01/2009
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA NHÂM TUẤT NIÊN HIỆU ĐẠI BẢO NĂM THỨ 3 (1442)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_738.jpg
Lớn lao thay! Thánh triều ta, Thái Tổ Cao hoàng đế, trời ban trí dũng, nghiệp lớn kinh luân, diệt bạo trừ tàn, cứu dân sinh khỏi chốn lầm than. Ngay khi vũ công đại định, văn đức sửa sang, muốn chiêu tập hiền tài, canh tân chính trị. Bèn xuống chiếu cho các nơi trong nước dựng nhà học để đào tạo nhân tài. Tại kinh đô có Quốc tử giám, ngoài các phủ có trường học. Thánh thượng đích thân chọn con cháu quan viên và thường dân tuấn tú vào làm học sinh ở các cục Nhập thị, Cận thị, Ngự tiền, cùng là giám sinh ở Quốc tử giám. Lại sai quan chuyên trách rộng chọn con em các nhà lương thiện vào làm sinh đồ ở các trường phủ, cử thày dạy dỗ, in kinh sách ban phát, đất trồng tài năng thực đã rộng mở. Còn như phép tuyển chọn kẻ sĩ, hoặc hỏi nghĩa lý kinh điển, hoặc các đề phú luận, hoặc Thánh thượng đích thân ra đề thi văn sách, tùy tài học từng người mà bổ dụng. Lúc bấy giờ tên gọi khoa thi Tiến sĩ tuy chưa đặt ra, nhưng thực chất đề cao Nho học và phép chọn người thì đại khái đã có đủ. Nền thái bình muôn thuở thực đã bắt đầu từ đây.
Ôi! Thái Tông Văn hoàng đế nối giữ nghiệp lớn, làm rạng rỡ ông cha, xem xét nhân văn, giáo hóa thiên hạ. Lấy việc trọng đạo Nho làm việc hàng đầu, coi kén chọn anh tài tôn trọng hiền sĩ làm mưu lược tốt. Nghĩ việc đặt khoa thi, kén kẻ sĩ là chính sự cần làm trước nhất. Tô điểm cơ đồ, khôi phục mở mang trị hóa chính là ở đây; mà sửa sang chính sự, sắp đặt công việc, giáo hóa dân phong mỹ tục cũng là ở đây, các bậc đế vương đời xưa làm nên trị bình đời nào cũng theo thế.
Thánh Tổ Cao hoàng đế đã định quy mô, nhưng chưa kịp thi hành. Làm rạng rỡ đời trước, khuyến khích đời sau, nay chính là lúc làm việc này. Bèn vào năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442) rộng mở xuân vi1 thi Hội cho các sĩ nhân trong nước. Bấy giờ số dự thi đông đến 450 người. Qua bốn trường, lấy trúng cách được 33 người. Quan Hữu ti chuyên trách kê tên dâng lên, Thánh thượng sai chọn ngày ban cho vào sân rồng ứng đối2. Lúc ấy Đề điệu3 là Thượng thư Tả Bộc xạ Lê Văn Linh, Giám thí là Ngự sử đài Thị Ngự sử Triệu Thái, cùng các quan Tuần xước, Thu quyển, Di phong, Đằng lục, Đối độc ai nấy đều kính cẩn thi hành công việc. Ngày mồng 2 tháng 2, Thánh thượng ra ngự ở điện Hội Anh, đích thân ra đề thi văn sách. Ngày hôm sau các viên Độc quyển là Hàn lâm viện Thừa chỉ Học sĩ kiêm Trung thư Quốc sử sự Nguyễn Trãi, Trung thư sảnh Trung thư Thị lang Nguyễn Mộng Tuân, Nội mật viện Tri viện sự Trình Thuấn Du, Quốc tử giám Bác sĩ Nguyễn Tử Tấn nâng quyển tiến đọc. Hoàng thượng sáng suốt ngự lãm, xét định thứ bậc cao thấp. Ban cho Nguyễn Trực đỗ Trạng nguyên, Nguyễn Như Đổ đỗ Bảng nhãn, Lương Như Hộc đỗ Thám hoa lang; bọn Trần Văn Huy 7 người đỗ Tiến sĩ, bọn Ngô Sĩ Liên 23 người đỗ Phụ bảng 4. Đó là gọi theo danh hiệu đã có từ đời trước.
Ngày mồng 3 tháng 3, xướng danh treo bảng, để tỏ cho kẻ sĩ thấy sự vẻ vang. Ân ban tước trật để nêu cao nổi bật với dân thường, ban áo mũ cân đai để đẹp cách ăn mặc, cho dự yến vườn Quỳnh 5 để tỏ ơn huệ, cấp ngựa về quê để rõ lòng đặc biệt mến yêu. Kẻ sĩ và dân chúng Trường An đâu đâu cũng tụ tập đến xem, đều ca ngợi Thánh thượng chuộng Nho xưa nay hiếm thấy.
Ngày mồng 4, bọn Trạng nguyên Nguyễn Trực lạy chào dâng biểu tạ ơn. Ngày mồng 9, lại vào bệ kiến cáo từ, xin được vinh quy. Đó là khoa thi đầu tiên đời thánh triều được ơn vinh long trọng, đến nay kẻ sĩ vẫn còn tấm tắc ngợi ca. Từ đó về sau thánh nối thần truyền, đều tuân theo lệ cũ.
Thánh hoàng6 trung hưng nghiệp lớn, rộng mở nhân văn, đổi mới chế độ, lừng lẫy tiếng tăm. Đặc biệt về phép lựa chọn kẻ sĩ lại càng lưu tâm chú ý: phàm những định lệ triều trước đã thi hành thì noi theo giữ gìn, những việc triều trước chưa đủ thì mở rộng thêm. Sau khi truyền lô yết bảng, lại cho dựng đá đề danh để truyền lại lâu dài. Phép hay ý tốt khuyến khích thật rất mực chu đáo tận tình. Tốt thay, thịnh thay!
Nay xét các khoa thi Tiến sĩ từ năm Đại Bảo thứ 3 đến nay đều chưa được dựng bia, bọn Thượng thư Bộ Lễ Quách Đình Bảo vâng mệnh Hoàng thượng đem họ tên thứ bậc người thi đỗ khắc lên đá tốt, đồng thời xin đem danh hiệu Trạng nguyên7, Bảng nhãn8, Thám hoa lang9 đổi làm Tiến sĩ cập đệ, người đỗ Phụ bảng đổi gọi là đồng Tiến sĩ xuất thân để cho hợp với quy chế hiện nay10. Hoàng thượng chuẩn tấu, sai từ thần là bọn Thân Nhân Trung chia nhau soạn bài ký.
Thần kính vâng lời ngọc, khôn xiết vui mừng. Kính nghĩ việc dựng bia khắc đá là cốt để làm cho ý tốt cầu hiền tài và đạo trị nước của thánh tổ thần tông được lưu truyền mãi mãi. Đó chính là phép lớn để rèn dũa người đời và là điều rất may cho Nho học. Thần tuy vụng về nông cạn, đâu dám chối từ. Kính cẩn cúi rập đầu mà ghi rằng:
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết. Vì kẻ sĩ có quan hệ trọng đại với quốc gia như thế, được quý chuộng không biết dường nào, đã được đề cao bởi khoa danh, lại được ban trọng tước trật. Ơn ban đã nhiều mà vẫn coi là chưa đủ. Lại nêu tên ở Tháp Nhạn11, ban danh hiệu Long Hổ12 để ngợi khen. Báo tin mở tiệc, triều đình mừng được người tài, không việc gì không làm hết mức.
Nay Thánh thượng anh minh, lại nhận thấy rằng việc lớn tốt đẹp tuy đã vẻ vang một thời, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ để lưu truyền lâu dài cho hậu thế. Vì thế lại cho khắc đá đề danh dựng ở cửa nhà Thái học13 để cho kẻ sĩ chiêm ngưỡng, hâm mộ phấn chấn, rèn luyện danh tiết, hăng hái kính giúp nhà vua. Há phải chỉ là chuộng hư danh, sính hư văn mà đặt ra đâu!
Ôi! kẻ sĩ ở chốn trường ốc lều tranh, danh phận thật là nhỏ mọn mà được triều đình đề cao hết mực như thế, thì người mang danh kẻ sĩ phải trọng thân danh mình mà lo báo đáp, phải nên thế nào?
Hãy đem họ tên những người đỗ khoa này mà điểm lại, thì thấy nhiều người đã đem tài năng văn học, chính sự để tô điểm cho nền trị bình, mấy chục năm qua được quốc gia trọng dụng. Cũng không phải là không có kẻ vì tham lam hối lộ mà hư hỏng hoặc rơi xuống hạng gian tà, có lẽ vì lúc sống bọn họ chưa được nhìn thấy tấm bia này. Ví thử đương thời chính mắt họ trông thấy, thì lòng thiện được khuyến khích mà ý xấu được ngăn ngừa, mầm nghiệt đâu dám nảy sinh? Thế thì việc dựng bia khắc đá này có lợi ích rất nhiều: kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện lấy đó làm gắng, biết rõ dĩ vãng, rộng nhìn tương lai, vừa là để rèn giũa danh tiết của kẻ sĩ, vừa là để củng cố mệnh mạch nước nhà. Việc lớn mà Thánh tổ Thần tông đặt ra đâu phải là vô ích. Vậy những ai xem đến tấm bia này cũng nên hiểu ý sâu xa đó.
Thần kính cẩn làm bài ký.
Phụng trực đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung14 vâng sắc soạn.
Cẩn sự lang Trung thư giám Chính tự Nguyễn Tủng vâng sắc viết chữ (chân).
Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Tô Ngại vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484).
Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:
NGUYỄN TRỰC 阮直15 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.
NGUYỄN NHƯ ĐỔ 阮如堵16 ngườihuyện Thanh Trì17 phủ Thường Tín.
LƯƠNG NHƯ HỘC 梁如鵠18 người huyện Trường Tân phủ Hạ Hồng.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 7 người:
TRẦN VĂN HUY 陳文徽19 người huyện Bất Bạt phủ Thao Giang.
HOÀNG SẰN PHU 黃莘夫20 người huyện Vĩnh Ninh phủ Thiệu Thiên.
NGUYỄN HỘC 阮鵠21 người huyện Thạch Hà phủ Hà Hoa.
VŨ LÃM 武覽22 người huyện Kim Động phủ Khoái Châu.
NGUYỄN HỮU PHU 阮有孚23 người huyện Đan Phượng phủ Quốc Oai.
PHẠM CƯ 范居24 người huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín.
TRẦN BÁ LINH 陳伯齡25 người huyện Vũ Giàng26 phủ Từ Sơn.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 23 người:
NGÔ SĨ LIÊN 吳士連27 người huyện Chương Đức phủ Ứng Thiên.
NGUYỄN DUY TẮC 阮則28 người huyện Tiên Lữ phủ Khoái Châu.
NGUYỄN CƯ ĐẠO 阮居道29 người huyện Gia Định phủ Thuận An.
PHAN VIÊN潘員30 người huyện Thạch Hà phủ Hà Hoa.
NGUYỄN ĐẠT 阮達31 người huyện Thanh Đàm phủ Thường Tín.
BÙI HỰU 裴祐32 người huyện Chương Đức phủ Ứng Thiên.
PHẠM NHƯ TRUNG 范如忠33 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
TRẦN ĐƯƠNG 陳當34 người huyện Đông Yên phủ Khoái Châu.
NGÔ THẾ DỤ 吳世裕35 người huyện Kim Hoa phủ Bắc Giang.
KHÚC HỮU THÀNH 曲有誠36 người huyện Thiện Tài phủ Thuận An.
LÊ LÂM 黎霖37người huyện Bất Bạt phủ Thao Giang.
NGUYỄN THIỆN TÍCH 阮善積38 người huyện Bình Hà phủ Nam Sách.
NGUYỄN NGHỊ 阮誼39 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
TRỊNH THIẾT TRƯỜNG鄭鐵長40 người huyện Yên Định phủ Thiệu Thiên.
TRẦN BÀN 陳磐41 người huyện Quế Dương phủ Từ Sơn.
NGUYỄN QUỐC KIỆT 阮國杰42 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
NGUYỄN MỸ 阮美43 người huyện Vĩnh Lại phủ Hạ Hồng.
TRỊNH KHẮC TUY 鄭克綏44 người huyện Vĩnh Ninh phủ Thiệu Thiên.
NGUYỄN ĐỊCH 阮逖45 người huyện Đại An phủ Kiến Hưng46
BÙI LÔI PHỦ 裴雷甫47 người huyện Phú Xuyên phủ Thường Tín.
LÊ CẦU 黎球48 người huyện Phúc Lộc phủ Quốc Oai.
LÊ HIỂN 藜顯49 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
NGUYỄN NGUYÊN CHẨN 阮原稹50 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
Chú thích:
1. Chỉ thi Hội, thi Hội thường tổ chức vào mùa xuân. Vi là khu vực dành cho thí sinh làm bài.
2. Nguyên văn: Tứ đối vu đình, tức thi Đình.
3. Đề điệu: viên quan đứng đầu chịu trách nhiệm toàn bộ công việc của trường thi. Tuần xước: tuần tra canh gác trong ngoài trường thi. Thu quyển: thu các quyển thi của thí sinh. Di phong: quan rọc phách, niêm phong các quyển thi. Đằng lục: người sao chép bài thi của thí sinh (thể lệ trường thi ngày trước không chấm bài trên các văn bản chính). Đối độc: người đọc soát bản sao so với bản chính.
4. Phụ bảng: bảng lấy thêm dưới hạng Tiến sĩ, tức đồng Tiến sĩ xuất thân.
5.Nguyên văn: Quỳnh Lâm, tên vườn hoa lớn phía sau điện Kính Thiên trong hoàng cung, nơi thường tổ chức các cuộc yến tiệc lớn. (Đời Đường ở Trung Quốc các Tiến sĩ được dự yến tiệc ở Hạnh Hoa viên).
6. Chỉ Lê Thánh Tông (vua đương thời khi viết bài ký dựng bia). Hai chữ “trung hưng” tiếp sau chỉ cuộc binh biến tháng 7-1460 do Nguyễn Xí, Đinh Liệt cầm đầu phế truất Lê Nghi Dân, lập Lê Tư Thành (thuộc dòng đích) lên ngôi, tức vua Lê Thánh Tông.
7. Trạng nguyên: danh hiệu khoa cử gọi người đỗ đầu thi Đình có từ đời Đường. Sĩ tử về kinh đô dự khoa thi Tiến sĩ đều phải nộp tờ khai gọi là Nhân thân trạng, nhân đó gọi người đỗ đầu bảng (thuộc hàng Nhất giáp) là Trạng nguyên. Đời Tống có lúc gọi cả 3 người thuộc hàng nhất giáp là Trạng nguyên, từ đời Nguyên về sau chỉ gọi người thứ nhất là Trạng nguyên.
8. Bảng nhãn: người đỗ thứ hai thuộc hàng Nhất giáp.
9. Thám hoa lang: danh hiệu khoa cử có từ đời Đường, lúc đầu để chỉ 2 người trẻ tuổi đỗ hàng Nhất giáp, gọi là Thám hoa sứ, đời Tống gọi là Thám hoa lang. Từ đời Nam Tống về sau gọi gọn là Thám hoa, chỉ người đỗ thứ ba trong hàng Nhất giáp.
10. Nước ta, các khoa thi đời Lý gọi là khoa thi Minh kinh bác học, đời Trần-Hồ gọi là khoa thi Thái học sinh. Lúc đầu chưa đặt các danh hiệu, chỉ chia người thi đỗ làm 3 hạng (Tam giáp). Từ khoa Đinh Mùi Thiên Ứng Chính Bình 16 thứ (1247) đời Trần Thái Tông mới đặt dạnh hiệu cho 3 người đỗ cao nhất (thuộc hàng Nhất giáp) là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa lang (sau gọi gọn là Thám hoa). Đến năm khắc bia này (1484) Bộ Lễ xin chính thức quy định các danh hiệu như dẫn trên.
11. Nhạn tháp: tên tháp chùa Từ Ân ở kinh đô Trường An (Trung Quốc). Các khoa thi Tiến sĩ đời Đường sau khi truyền loa gọi tên người thi đỗ thì khắc tên ở Nhạn tháp chùa Từ Ân.
12. Long hổ: Tức Long hổ bảng, người đời Đường thường gọi bảng báo tên người đậu Tiến sĩ là "Long hổ bảng".
13. Nguyên văn: hiền quan, nghĩa là cửa của người hiền, chỉ nhà Thái học. Đổng Trọng Thư đời Hán viết: “Dưỡng sĩ chi đại mạc đại hồ Thái học. Thái học giả, hiền sĩ chi sở quan dã” (Sự lớn lao của việc nuôi dưỡng kẻ sĩ không gì lớn bằng nhà Thái học. Nhà Thái học là cửa cổng mà hiền sĩ phải đi qua).
14. Thân Nhân Trung (1419-1499) tự Hậu Phủ , người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Ninh Sơn huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang). Ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân năm Kỷ Sửu, niên hiệu Quang Thuận thứ 10 (1469) đời vua Lê Thánh Tông. Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Lại, Chưởng Hàn lâm viện sự kiêm Đông các Đại học sĩ, Nhập nội Phụ chính, Tế tửu Quốc tử giám; là thành viên của Hội Tao Đàn và được vua Lê Thánh Tông phong làm Tao Đàn Phó Nguyên soái.
15. Nguyễn Trực (1417-1474) hiệu Hu Liêu và tự là Công Dĩnh , người xã Bối Khê huyện Thanh Oai tỉnh Hà Đông (nay thuộc xã Tam Hưng huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông là người yêu văn chương và giữ các chức quan như: Thự trung thư lệnh, Tri tam quán sự, đặc thụ Hàn lâm viện Thừa chỉ kiêm Tế tửu Quốc tử giám, từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
16. Nguyễn Như Đổ (1424-1525) hiệu Khiêm Trai và tự là Mạnh An , người xã Đại Lan huyện Thanh Đàm (nay thuộc huyện Thanh Trì Tp. Hà Nội); sau trú quán tại làng Tử Dương huyện Thượng Phúc (nay thuộc huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lại kiêm Tế tửu Quốc tử giám. Ông được cử 3 lần đi sứ (năm1443, năm 1450 và năm 1459) sang nhà Minh (Trung Quốc).
17. Huyện Thanh Trì, tên đương thời (đời Lê sơ) là huyện Thanh Đàm thuộc phủ Thường Tín. Đầu đời Lê Trung hưng, kiêng chữ Đàm (tên huý Thế Tông Lê Duy Đàm (1573-1600), đổi gọi là Thanh Trì ; sau lại kiêng chữ Thanh (trong) là tên tước của Thanh vương Trịnh Tráng (1623-1657), đổi viết Thanh Trì .
18. Lương Như Hộc (?-?) tự là Tường Phủ , người xã Hồng Liễu huyện Trường Tân (nay là thôn Thanh Liễu xã Tân Hưng huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến chức Đô Ngự sử, hai lần được cử đi sứ sang nhà Minh, được về trí sĩ. Ông có công dạy nghề khắc ván in cho dân làng Hồng Liễu. Sau khi ông mất, dân làng tôn thờ làm thành hoàng.
19.Trần Văn Huy (?-?) người xã Thái Bạt huyện Bất Bạt (nay thuộc xã Tòng Bạt huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây). Ông là thân phụ của Trần Văn Cẩn. Có người nói ông là người xã Quảng Bị (cùng huyện). Làm quan Thượng thư Bộ Lại.
20. Hoàng Sằn Phu (?-?) người xã Tiên Kiều huyện Vĩnh Ninh (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Hoàng môn Thị lang kiêm Quốc sử Tu soạn.
21. Nguyễn Hộc (1412-?) người xã Cổ Kinh huyện Thạch Hà (nay thuộc xã Thạch Kênh huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Thượng thư Bộ Binh kiêm Hàn lâm viện Học sĩ, tước hầu.
22. Vũ Lãm (?-?) nguyên quán xã Tiên Kiều huyện Kim Động (nay thuộc xã Bảo Khê huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên). Trú quán xã Kim Lan huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Kim Lan huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Ngự tiền học sinh, Hàn lâm viện Trực học sĩ.
23. Nguyễn Hữu Phu (1413-?) tự Hiển Danh , người xã Sơn Đồng huyện Đan Phượng (nay thuộc xã Sơn Đồng huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan, như An phủ sứ Thái Nguyên, An phủ sứ Khoái Lộ và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
24. Phạm Cư (?-?)người xã La Phù huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã La Phù huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thái bộc tự khanh, quyền Tham chính Lạng Sơn và được cử đi sứ (năm 1464) sang nhà Minh (Trung Quốc). Có sách ghi ông là Nguyễn Cư.
25. Trần Bá Linh (?-?) người xã Thị Cầu huyện Vũ Ninh (nay thuộc phường Thị Cầu thị xã Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thẩm hình viện, Tri Đông đạo quân dân bạ tịch và được cử đi sứ (năm 1459) sang nhà Minh (Trung Quốc).
26. Huyện Vũ Giàng, đời Lê sơ là huyện Vũ Ninh, đầu đời Lê Trung hưng kiêng huý Trang Tông Lê Duy Ninh nên mới đổi là Vũ Giang (sau kiêng tên chúa Trịnh Giang đọc chệch là Vũ Giàng).
27. Ngô Sĩ Liên (?-?) người xã Chúc Sơn huyện Chương Đức (nay thuộc xã Ngọc Sơn huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan, như Đô Ngự sử, Hữu Thị lang Bộ Lễ, Quốc tử giám Tư nghiệp, kiêm Sử quán Tu soạn. Ông thọ hơn 90 tuổi.
28. Nguyễn Duy Tắc (?-?) người xã Thiên Đông huyện Tiên Lữ (nay thuộc xã Dị Chế huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên). Ông từng làm quan Hiến sát sứ.
29. Nguyễn Cư Đạo (?-?) người xã Đông Côi huyện Gia Định (nay thuộc xã An Bình huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Ngự sử đài Đô Ngự sử, Thượng thư Bộ Hộ, Tri Kinh diên sự và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
30. Phan Viên (1421-?) người xã Bàn Thạch huyện Thạch Hà (nay thuộc xã Sơn Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Quốc tử giám Tế tửu.
31. Nguyễn Đạt (?-?) người xã Diên Trường huyện Thanh Đàm (nay thuộc huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội). Ông làm quan Thượng thư kiêm Hàn lâm viện Thừa chỉ.
32. Bùi Hựu (?-?) người xã Lam Điền huyện Chương Đức (nay thuộc xã Lam Điền huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thị lang và được cử đi sứ (năm 1462) sang nhà Minh (Trung Quốc).
33. Phạm Như Trung (1413-?) người xã Nhân Lý huyện Thanh Lâm (nay thuộc thị trấn Nam Sách huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Đông các Hiệu thư.
34. Trần Đương (?-?) người xã Triền Thủy huyện Đông Yên (nay thuộc xã Đông Kết huyện Châu Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Đề hình Giám sát Ngự sử.
35. Ngô Thế Dụ (?-?) người xã Khê Nữ huyện Kim Hoa (nay thuộc xã Nguyên Khê huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Tả Thị lang.
36. Khúc Hữu Thành (?-?) người xã Thiện Tài huyện Thiện Tài (nay thuộc huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Binh.
37. Lê Lâm (1411-?) người xã Hạ Bì huyện Bất Bạt (nay thuộc tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan, như Ngự tiền học sinh, Chủ bạ, Ngự sử đài, Giám sát Ngự sử.
38. Nguyễn Thiện Tích (?-?) người xã Tiền Liệt huyện Bình Hà (nay thuộc xã Tân Phong huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư kiêm Đô Ngự sử.
39. Nguyễn Nghị (1412-?) người xã Trác Châu huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã An Châu huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Tham chính.
40. Trịnh Thiết Trường (?-?) người xã Đông Lý huyện Yên Định (nay thuộc xã Hạnh Phúc huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa). Đi thi khoa này, ông quyết đoạt danh hiệu Cập đệ (tức hàng Tam khôi là Trạng nguyên, Bảng nhãn hay Thám hoa), nhưng chỉ đỗ hạng Tam giáp, ông từ chối không nhận. Khoa sau Thái Hòa năm thứ 6 (1448), ông lại đi thi, quả nhiên đỗ Bảng nhãn. Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm viện Thị giảng, Hữu Thị lang và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
41. Trần Bàn (?-?) người xã Từ Sơn huyện Quế Dương (nay thuộc xã Bồng Lai huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông giữ các chức quan, như Đông các Đại học sĩ Ngự sử đại phu, Tả Thị lang Bộ Lại và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
42. Nguyễn Quốc Kiệt (?-?) người xã Trang Liệt huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đồng Quang huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng thư kiêm Thẩm hình viện.
43. Nguyễn Mỹ (?-?) chưa rõ xã, huyện Vĩnh Lại xưa bao gồm huyện Vĩnh Bảo Tp. Hải Phòng và một phần huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương ngày nay. Ông từng giữ chức Tả Thị lang Bộ Lễ.
44. Trịnh Khắc Tuy (1413-?) người xã Sóc Sơn huyện Vĩnh Ninh (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
45. Nguyễn Địch (?-?) người xã Vụ Lạc huyện Đại An (nay thuộc huyện Ý Yên tỉnh Nam Định). Ông làm quan Tả Thị lang.
46. Phủ Kiến Hưng, đời Lý là huyện Ứng Phong, nhà Trần gọi là phủ Ứng Phong, sau kiêng đồng âm chữ Phong (tên huý Khâm Từ Hoàng thái hậu, mẹ Trần Anh Tông), đổi gọi là phủ Kiến Hưng. Thời thuộc Minh, đổi phủ Kiến Hưng thành phủ Kiến Bình. Nhà Lê đổi là phủ Nghĩa Hưng thuộc thừa tuyên Sơn Nam (sau là xứ), gồm 4 huyện: Thiên Bản, Ý Yên, Vọng Doanh, Đại An. Nay là đất các huyện Vụ Bản và Ý Yên tỉnh Nam Định.
47. Bùi Lôi Phủ (1412-?) người xã Đào Xá huyện Phù Vân (nay thuộc huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lại.
48. Lê Cầu (1421-?) người xã Nam Nguyễn huyện Phúc Lộc (nay thuộc xã Cam Thượng huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Bí thư.
49. Lê Hiển (1425-?) người xã Lạc Thực huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Đông Lạc huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Trực học sĩ và được cử đi sứ (năm 1463) sang nhà Minh (Trung Quốc). Ông còn có tên là Lê Văn Hiển.
50. Nguyễn Nguyên Chẩn (1425-?) người xã Lạc Thực huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Đồng Lạc huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Ông thi đỗ, nhưng không nhận, vì không đỗ Cập đệ (tức hàng Tam khôi). Đến khoa Mậu Thìn Thái Hòa thứ 6 (1448), ông đi thi lại, vẫn chỉ đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân và làm quan Khu mật Trực học sĩ.
Tử Hà
04-14-09, 09:25:49 PM
Bia số 2
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA MẬU THÌN NIÊN HIỆU THÁI HÒA NĂM THỨ 6 (1448)
Cập nhật lúc 10h14, ngày 25/01/2009
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA MẬU THÌN NIÊN HIỆU THÁI HÒA NĂM THỨ 6 (1448)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_737.jpg
Nhân Tông Tuyên hoàng đế nước Đại Việt kế thừa nghiệp lớn đã 17 năm, ba lần đặt khoa thi chiêu mời kẻ sĩ. Đương thời, việc chọn được người hiền tài để sử dụng, nối giữ trị bình, có tác dụng không phải nhỏ. Năm Quý Dậu niên hiệu Thái Hòa thứ 11 (1452), năm Mậu Dần niên hiệu Diên Ninh thứ 5 (1458) cả hai khoa đều không Điện thí, chỉ có khoa Mậu Thìn niên hiệu Thái Hòa thứ 6 là có Điện thí. Khoa ấy, kẻ sĩ trong nước đỗ Hương tiến đến dự thi Hội ở Bộ Lễ hơn 750 người, quan Hữu ti chọn hạng xuất sắc được 27 người.
Mùa thu, ngày 23 tháng 8, Hoàng thượng ngự điện Tập Hiền, đích thân ra đề văn sách. Sai Đặc tiến Nhập nội Tư khấu Đồng Bình chương sự Trịnh Khắc Phục làm Đề điệu, Ngự sử trung Thừa Ngự sử đài Hà Lật làm Giám thí, Môn hạ sảnh Tả ty Tả nạp ngôn Tri Bắc đạo quân dân bạ tịch Nguyễn Mộng Tuân, Hàn lâm viện Thừa chỉ Học sĩ Trình Thuấn Du, Quốc tử giám Tế tửu Nguyễn Tử Tấn1 làm Độc quyển. Lấy những bài thi có văn phong khí cốt đáng khen, chọn bọn Nguyễn Nghiêu Tư trở xuống, ban cho đỗ Tiến sĩ cập đệ và xuất thân có thứ bậc khác nhau. Mọi nghi thức ban cấp áo mũ, yến tiệc đều tuân theo lệ cũ. Duy có việc dựng đá đề danh thì lúc đó chưa kịp tiến hành.
Hoàng thượng2 ở ngôi báu năm thứ 15, chấn hưng sĩ khí, sứ mệnh của văn học càng được đề cao, tô điểm cho nền trị bình, tuyên bố rõ ràng đầy đủ. Bèn xuống chiếu cho quan Bộ Công khắc đá để truyền đến muôn đời. Lại sai kẻ bề tôi là (Đỗ) Nhuận soạn văn bia. Thần kính vâng lời ngọc, cũng mừng cho nền tư văn và hàng sĩ tử nước nhà, há dám viện cớ vụng về chối từ, kính cẩn cúi đầu rập đầu mà dâng lời rằng:
Sự lớn lao của nền chính trị của bậc đế vương không gì quan trọng bằng việc trọng dụng nhân tài. Sự đầy đủ về các chế độ của quốc gia, ắt phải chờ ở bậc vua thánh đời sau. Việc cai trị mà không lấy nhân tài làm gốc, lập quy mô mà không nghĩ tính cho các vua sau, thì đều phải coi là cẩu thả. Làm sao có thể từ nền trí trị mà làm cho phong tục lên cao, điển chương văn vật được đầy đủ?
Kính nghĩ Thái Tổ Cao hoàng đế nối trời mở vận, thánh đức công thần, văn hay võ giỏi, trí dũng khoan nhân, sáng suốt đại hiếu, đem vũ công dẹp yên loạn lạc, lấy văn đức dựng nền trị bình. Từ khi đặt niên hiệu Thuận Thiên đã cho mở mang việc học, giáo hóa thấm nhuần, vận hội văn chương thịnh sáng, nền thái bình muôn thuở chính nhờ đó mà bắt đầu.
Thái Tông Chiêu Huệ hoàng đế thay trời hành đạo, làm hiển rạng công đức của Cao hoàng, kính cẩn sáng suốt văn võ, tinh anh mẫn tiệp, nhân ái hiền triết, giỏi võ giỏi văn, giữ khuôn phép cũ. Niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442), bắt đầu mở rộng Nho khoa, anh tài được chọn tuyển vinh thăng, kỷ cương được chấn chỉnh, làm rạng rỡ đời trước, để lại khuôn mẫu cho đời sau, chính từ đó mà cơ đồ được khôi phục mở mang.
Nhân Tông hoàng đế nối chí kế nghiệp, trọng võ tôn văn, dùng kẻ sĩ chọn hiền tài, kính theo điển chương chế độ thành pháp, nhưng riêng việc dựng bia ở nhà Thái học thì vẫn còn chưa kịp làm. Muốn ghi chép văn vật thật đầy đủ, dường như còn phải đợi thời.
Nay Thượng hoàng đế thay trời mở vận trung hưng, gánh vác đạo lớn, đề cao Nho học, suy nghĩ canh cánh bên lòng. Huống chi đã được liệt thánh hàm dưỡng sâu sắc, lại thêm mười năm ra sức chấn hưng tác thành. Trước đây 6 năm mới mở một khoa thi lớn, nay theo qui chế nhà Chu, chỉ 3 năm mở một khoa cũng không ngần ngại. Trước chọn kẻ sĩ chỉ lấy đỗ không quá hai ba chục người. Nay thì rộng chọn thực tài, không ngại số người trúng tuyển tăng lên gấp bội. Cho đến việc ban khen cất nhắc, đức ý nồng hậu, ơn vinh ban phong có thứ bậc khác nhau, tiết mục rành rẽ tự nhiên rực rỡ, vượt cả xưa nay. Cho soạn bài ký khắc vào đá tốt đặt tại cửa hiền để khuyến khích kẻ sĩ. Chế độ của Thánh thượng thật tốt đẹp thay!
Như vậy thì trong sự đầy đủ của nền văn minh triều ta, chế độ khoa cử khởi đầu từ năm Thuận Thiên mà chính thức bắt đầu từ năm Đại Bảo, tiếp tục thi hành vào đời Thái Hòa, mà thịnh nhất là đời Hồng Đức vậy. Nếu chẳng phải Thánh thượng làm hết trách nhiệm của người làm vua làm thầy, đích thân nắm quyền hành, thì làm sao có thể làm xong những việc mà tiên đế chưa làm xong, hoàn thiện những điều mà tiên thánh chưa làm đủ.
Con thánh cháu thần, ngước nối chí lớn, qui mô xa rộng, trăm đời sau vẫn còn biết được.
Nay những người được đề tên vào tấm đá này, cho dù nay đã có nửa phần tuổi tác đã cao, nhưng con người trung chính hay tà ngụy thế nào, việc làm được mất nên hư thế nào, công luận nghiêm xét, ngàn đời khó trốn.
Còn những người hiện đương tại chức, hãy nên nhớ lại ơn lựa chọn của tiên triều, ngẫm tới sự hiển đạt của mình ngày nay, tiết muộn đường dài, hãy thận trọng để khỏi hổ thẹn. Còn những người hậu tiến sờ vào tấm đá này, liếc nhìn bài văn này cũng nên biết cách thức khích lệ của thánh triều, kiếm tìm dấu tích danh thực của tiền bối, lựa lấy điều hay để theo mà bắt chước; đừng để cho đời sau phải chê trách đời nay, cũng như đời nay phải chê trách đời trước, thế là việc rất tốt trong việc tốt vậy.
Thần kính cẩn làm bài ký.
Trung trinh đại phu Hàn lâm viện Thị độc kiêm Đông các Đại học sĩ Đỗ Nhuậnvâng sắc soạn.
Cẩn sự lang Trung thư giám Chính tự Nguyễn Tủng vâng sắc viết chữ (chân).
Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Tô Ngại vâng viết chữ triện.
Bia dựng ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484).
Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:
NGUYỄN NGHIÊU TƯ 阮堯咨3người huyện Vũ Ninhphủ Từ Sơn.
TRỊNH THIẾT TRƯỜNG 鄭鐵長4người huyện Yên Định phủ Thiệu Thiên.
CHU THIÊM UY 朱添威5người huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 12 người:
NGUYỄN MẬU 阮茂6 người huyện Thụy Anh phủ Thái Bình.
DƯƠNG CHẤP TRUNG 楊執中7 người huyện Kỳ Hoa phủ Hà Hoa.
TRỊNH KIÊN 鄭堅8 người huyện Vĩnh Ninh phủ Thiệu Thiên.
PHẠM ĐỨC KHẢN 范德侃9 người huyện Vĩnh Lại phủ Hạ Hồng.
NGUYỄN ĐÌNH TÍCH 阮廷錫10người huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín.
NGUYỄN BÁ KÝ 阮伯驥11 người huyện Chương Đức phủ Ứng Thiên.
NGUYỄN DI QUYẾT 阮貽厥12 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.
ĐẶNG TUYÊN 鄧宣13 người huyện Thiên Thi phủ Khoái Châu.
BÙI PHÚC 裴福14 người huyện Chương Đức phủ Ứng Thiên.
NGUYỄN VĂN CHẤT 阮文質15 người huyện Bạch Hạc phủ Tam Đới.
PHAN HOAN 潘歡16 người huyện Ninh Sơn phủ Quốc Oai.
NGUYỄN THÚC THÔNG 阮叔通17 người huyện Đan Phượng phủ Quốc Oai.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 12 người:
ĐOÀN NHÂN CÔNG 段仁公18 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.
HOÀNG MÔNG 黃蒙19người huyện Thanh Liêm phủ Lị Nhân.
NGUYỄN NGUYÊN CHẨN 阮原稹20người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
NGUYỄN TÔNG LỖI 阮宗磊21 người huyện Bạch Hạc phủ Tam Đới.
NGUYỄN THIỆN 阮善22 người huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.
ĐÀO TUẤN 陶 寯23 người huyện Chương Đức phủ Ứng Thiên.
ĐINH MINH 丁明24 người huyện Vĩnh Ninh phủ Ngự Thiên25.
TẠ TỬ ĐIÊN 謝子顛26 người huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai.
TRẦN DUY HINH 陳維馨27 người huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín.
PHẠM QUỐC TRINH 范國楨28 người huyện Thanh Đàm phủ Thường Tín.
VŨ ĐỨC LÂM 武德林29 người huyện Đường An phủ Thượng Hồng.
NGUYỄN NGỰ 阮馭30 người huyện Vĩnh Ninh phủ Ngự Thiên.
Chú thích:
1.Nguyễn Tử Tấn (?-?) ông hiệu là Chuyết Amvà tự là Tử Tấn, sau lấy tên tự làm tên gọi, người xã Triều Liệt huyện Thượng Phúc (nay thuộc huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông vốn là Lý Tử Tấn ,, vì đời Trần có lệ kiêng huý chữ Lý và họ Lý phải đổi làm họ Nguyễn; mặc dù đến đầu đời Lê có lệnh cho khôi phục họ cũ, nhưng do đương thời đã quen gọi, nên văn bia này vẫn ghi là Nguyễn Tử Tấn ,. Lý Tử Tấn thi đỗ Đệ nhị giáp khoa thi Thái học sinh năm Canh Thìn, niên hiệu Thánh Nguyên thứ 1 (1400) đời vua Hồ Quý Ly, nhưng không ra làm quan với nhà Hồ. Sau này, ông ra làm quan với nhà Lê, giữ chức Hàn lâm viện Học sĩ.
2. Nay Thượng hoàng đế: chỉ Lê Thánh Tông.
3. Nguyễn Nghiêu Tư (?-?) hiệu là Tùng Khê và tự là Quân Trù , người xã Phù Lương huyện Võ Giàng (nay thuộc huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm Trực Học sĩ, rồi làm Tân Hưng lộ An phủ sứ. Thời Lê Nghi Dân tiếm ngôi, triều đình cử ông làm Phó sứ (năm 1460) sang nhà Minh (Trung Quốc) cầu phong. Sau này, ông làm quan Thượng thư chưởng lục bộ.
4. Trịnh Thiết Trường: Xem chú thích 40, Bia số 1.
5. Chu Thiêm Uy (?-?) người làng Hương Quất huyện Tứ Kỳ (nay xã Kỳ Sơn huyện Tứ Kì tỉnh Hải Dương). Ông làm quan An phủ sứ Tân Hưng hạ lộ.
6. Nguyễn Mậu (?-?) người thôn Bích Du huyện Thuỵ Anh (nay thuộc xã Thái Thượng huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hình kiêm Đô Ngự sử.
7. Dương Chấp Trung (1414-1469) người xã Sài Xuyên huyện Kỳ Hoa (nay thuộc huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh). Ông giữ các chức quan, như Tham chính Thừa tuyên sứ, Đại lý tự khanh, Hữu Thị lang Bộ Hình và sau thăng Tả Thị lang.
8. Trịnh Kiên (1406-?) người huyện Vĩnh Ninh (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Hàn lâm Trực học sĩ và được cử đi sứ Chiêm Thành (năm 1449).
9. Phạm Đức Khản (?-?) người xã Hội Am huyện Vĩnh Lại (nay thuộc xã Cao Minh huyện Vĩnh Bảo Tp.Hải Phòng). Ông làm quan Tả Thị lang. Có tài liệu ghi ông là Phạm Đức Trung.
10. Nguyễn Đình Tích (?-?) người huyện Thượng Phúc (nay là huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm viện Thừa chỉ, Tri Đông đạo quân dân, sau thăng đến Thượng thư Bộ Binh.
11. Nguyễn Bá Ký (?-1465) người xã Viên Nội huyện Chương Đức (nay thuộc xã Viên Nội huyện Ứng Hòa tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư, tước Quận công, Quốc tử giám Tế tửu kiêm Văn minh điện Đại học sĩ, Nhập thị Kinh diên và được cử làm Phó sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
12. Nguyễn Di Quyết (?-?) người xã Trung Thanh Oai huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Kiến Hưng thị xã Hà Đông tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thị lang.
13. Đặng Tuyên (?-?) người xã Bình Lãng huyện Thiên Thi (nay thuộc xã Tiền Phong huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Hàn lâm viện Thừa chỉ.
14. Bùi Phúc (?-?) người xã Lam Điền huyện Chương Đức (nay thuộc xã Lam Điền huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Quốc sử viện Đồng tu sử.
15. Nguyễn Văn Chất (1422-?) người xã Vũ Di huyện Bạch Hạc (nay thuộc xã Vũ Di huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Thượng thư và được cử đi sứ (năm 1480) sang nhà Minh (Trung Quốc).
16. Phan Hoan (1418-1472) người xã Lật Sài huyện Ninh Sơn (nay thuộc huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Đồng Tu sử viện.
17. Nguyễn Thúc Thông (?-?) người xã Quế Dương huyện Đan Phượng (nay thuộc xã Cát Quế huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông từng giữ chức Quốc sử Đồng tu sử viện, sau thăng đến chức Tham chính.
18. Đoàn Nhân Công (?-?) người xã Cao Mật huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Thanh Cao huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông từng được bổ chức Ngự tiền học sinh.
19. Hoàng Mông (?-?) người xã Bằng Khê huyện Thanh Liêm (nay thuộc xã Liêm Trung huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
20. Nguyễn Nguyên Chẩn: Xem chú thích 50, Bài số 1.
21. Nguyễn Tông Lỗi (1414-?) người xã Bồ Điền huyện Bạch Hạc (nay thuộc xã Thượng Trưng huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc). Ông giữ các chức quan, như Quản lĩnh, Đồng tri Trung Bắc giang vệ.
22. Nguyễn Thiện (?-?) người làng Hương Quất huyện Tứ Kỳ (nay thuộc xã Kỳ Sơn huyện Tứ Kì tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lại.
23. Đào Tuấn (1419-?) người xã Sùng Sơn huyện Chương Đức (nay thuộc huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan, như Ngự sử đài Thiêm Đô Ngự sử, sau thăng đến chức Thượng thư Bộ Binh, tước Sùng Sơn bá và từng được cử đi sứ (năm 1465) sang nhà Minh (Trung Quốc).
24. Đinh Minh (1415-?) người huyện Vĩnh Ninh (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
25. Ngự Thiên: Đời Lê không có tên phủ Ngự Thiên. Vĩnh Ninh là huyện đời Trần Hồ và thời thuộc Minh thuộc phủ Thanh Hóa. Đời Lê Thánh Tông đặt huyện Vĩnh Ninh thuộc phủ Thiệu Thiên. Ngay trong bia này, cách mấy dòng trên, quê của Trịnh Kiên cũng ở huyện Vĩnh Ninh ghi tên phủ là Thiệu Thiên. Như vậy, Ngự Thiên có thể là do Thiệu Thiên nhầm thành, khi khắc lại bia vào năm 1863.
26. Tạ Tử Điên (?-?) người xã Ỷ La huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Dương Nội huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây), sau di cư đến xã La Phù (nay thuộc xã La Phù huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tham chính và từng được cử đi sứ nhà Minh (Trung Quốc).
27. Trần Duy Hinh (?-?) người xã Vũ Lăng huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Thắng Lợi huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan, như Tri phủ Tường Lân, Tham nghị Lạng Sơn.
28. Phạm Quốc Trinh (?-?) người Tiểu Lan Châu huyện Thanh Đàm (nay thuộc xã Duyên Hà huyện Thanh Trì Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thị lang.
29. Vũ Đức Lâm (?-?) người xã Mộ Trạch huyện Đường An (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư.
30. Nguyễn Ngự (1413-?) người huyện Vĩnh Ninh (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa). Ông từng làm quan Phó Đô Ngự sử.
Tử Hà
04-15-09, 07:18:20 PM
Bia số 3
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA QUÝ MÙI NIÊN HIỆU QUANG THUẬN NĂM THỨ 4 (1463)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_736.jpg
Thánh thiên tử lên ngôi báu đã 4 năm, vận hội văn chương tựa sao sáng, nhân tài như mây họp. Gặp năm có khoa thi lớn, kẻ sĩ ca bài Lộc minh1 mà đến, đông tới 1.400 người, để cùng nhau đua tranh tài nghệ trong chốn xuân vi, hạng xuất sắc chọn được 44 người.
Ngày 16 tháng hai, Hoàng thượng ngự ở hiên điện thân hỏi về đạo trị nước của các bậc đế vương; sai bọn Kiểm hiệu Tư đồ Bình chương sự kiêm Đô đốc Đồng Bình chương sự Đông đạo chư vệ quân Nguyễn Lỗi làm Đề điệu, Quốc tử giám Tế tửu Lê Niệm cùng trông coi công việc.
Sáng hôm sau, Tả ty môn Hạ sảnh Tả gián nghị đại phu Tri Bắc đạo quân dân bộ tịch sảnh kiêm Hàn lâm viện Thừa chỉ Học sĩ Nguyễn Như Đổ, Hàn lâm viện Thừa chỉ Học sĩ Tri Đông đạo quân dân bạ tịch Nguyễn Vĩnh Tích, Quốc tử giám Tế tửu Nguyễn Bá Ký dâng quyển lên đọc, Hoàng thượng ngự lãm, định thứ bậc cao thấp. Ban cho bọn Lương Thế Vinh trở xuống đỗ Tiến sĩ cập đệ, xuất thân thứ bậc có khác nhau.
Ngày 22, Vua ngự điện Kính Thiên, cho gọi loa xướng tên người thi đỗ. Quan Bộ Lễ rước bảng vàng ra yết ngoài cửa Đông Hoa để cho các sĩ tử xem tên. Lại ban áo mũ, yến tiệc để tỏ ý yêu mến đặc biệt, ơn sủng thật trọng hậu. Nhưng việc dựng đá đề danh vẫn chưa kịp làm, đến nay đã 22 năm, là chỗ thiếu sót của điển lễ.
Nay Hoàng thượng2 luôn nghĩ nhân tài là nguyên khí của nước nhà, không thể không ra sức vun trồng bồi đắp; chế độ làm vẻ đẹp cho nước nhà, không thể không xếp đặt rõ ràng đầy đủ. Bèn sai quan Bộ Công khắc đá đề danh dựng ở nhà Thái học. Lại sai bề tôi là Đào Cử soạn bài ký.
Thần kính vâng mệnh sáng, đâu dám viện cớ nông cạn chối từ. Kính cẩn cúi đầu rập đầu mà dâng lời rằng:
Khí chân nguyên hội hợp rồi sau hiền tài trong thiên hạ mới nảy sinh. Bậc chân chúa lên ngôi tất hiền tài đắc dụng. Cử Nguyên Khải3 hỏi quan nhạc mục 4, đó là cách dùng người hiền ở đời Nghiêu Thuấn. Trọng người tài năng, thăng dùng bậc tuấn kiệt, đó là lối dùng người ở đời Thành Chu, cho nên phong tục tốt lành, nước nhà yên ổn. Xem thế đủ thấy phép trị nước ắt phải lấy việc cử người hiền dùng người tài làm căn bản vậy.
Kính nghĩ Hoàng triều, Thái Tổ Cao hoàng đế đại định võ công, mở mang văn đức, gươm giáo chưa kịp xếp lại đã mở cửa cầu hiền tài, sửa sang văn đức, cổ vũ lòng dân, quy mô thật sâu xa rộng lớn.
Thái Tông Văn hoàng đế nối tiếp mở mang quy mô, tập hợp anh hùng, đặt khoa mục để chọn người hiền tài, tiến cử bậc chân Nho để giúp đời thịnh trị, sự thành công mới rực rỡ làm sao!
Nhân Tông hoàng đế dõi theo nếp cũ, kế nối quy mô hiển hách của tiên vương, lấy Nho thuật để tô điểm trị bình, lấy nhân hậu để vun bồi mệnh mạch nước nhà, mà cách chọn kẻ sĩ vẫn theo điển chế cũ.
Nay Hoàng thượng vẻ vang khôi phục cơ đồ, vâng theo mệnh lớn, nhân nghĩa khắp chốn vang danh, văn trị võ công rõ ràng sau trước. Nền giáo hóa lớn đến đây thật tốt đẹp, vầng nguyên khí đến đây thật bao la. Lớn lao thay văn hóa phô bày lan tỏa, cao ngút thay một phen đại chấn Nho phong. Cho nên nhân tài nối nhau xuất hiện, lớp lớp kế tiếp. Phàm ai vùng vẫy trên khoảng trời diều liệng, hoặc là xoay quanh dưới đám đất kiến đùn, không ai là không thích như chim bằng vươn cánh bay cao để khoe vẻ đẹp, mong được thử sức đua tài giữa đời thịnh trị. Khoa này là khoa thứ nhất trong buổi Trung hưng, chọn được nhiều người giỏi, rực rỡ hơn cả đời xưa, nhân tài được tuyển dùng trong ngoài rất đông. Người sắp đặt chấn hưng lễ nhạc, kẻ chuyên giữ việc văn từ, đông như cá nối đuôi, như ve liền cánh. Người giữ biên cương hoặc làm thú lệnh đông đảo sát cánh kề vai. Quẻ Thái trong Kinh Dịch nói: "Nhổ cỏ tranh được luôn cả cụm rễ"5, Kinh Thi nói: "Nhà Chu hiền sĩ đông đúc, bởi vua biết dùng người" đều là nói về việc thịnh như thế. Có lẽ trời trao cho Thánh thượng sự tốt lành của nền văn minh muôn đời đó chăng?
Đến nay chế độ văn vật rõ ràng sáng suốt, khắc vào bia đá dựng ở nhà Quốc học, một là để làm thịnh điển của triều vua sáng, hai là để làm vinh quang cho kẻ sĩ, soi tỏ mai sau, ngụ lời khuyến khích.
Kẻ sĩ may mắn được ghi danh vào tấm đá này, phải làm cho danh đúng với thực, sửa nết giữ mình, bắt chước Văn Hiến giữ lòng, đừng theo Công Tôn học hành xiên vạy. Thanh danh đức hạnh phải như Triệu Duyệt Đạo, khí tiết cứng cỏi phải giống Phạm Cảnh Nhân. Những người ở chức tháp tùng hầu vua phải lo dâng tiến mưu hay, những người nắm giữ kỷ cương phải lo làm cho chính sự trong sạch, những người cai trị địa phương phải lo làm sao rạng tỏ đức bề trên mà thấu tình người dưới, những người giữ quyền chăn dân phải lo sao cho nơi mình làm quan dân được no đủ mà gốc nước được vững bền. Ngõ hầu trên không phụ thịnh ý của triều đình ban khen, dưới không phụ hoài bão lớn muốn phò vua giúp nước, để danh dự được lưu lại đời đời, danh thơm truyền mãi mãi, khiến cho người đời đến xem đọc bia đá này, chỉ vào tên mà nói: đây là những người trung với nước, hiếu với dân, bàn nói ngay thẳng làm sáng thánh đạo, giữ vững đạo đức kiến lập công lao, được như thế là may mắn lắm. Nếu không được thế thì người xem đưa mắt bảo: kẻ này nhu nhược, kẻ này đức mỏng, kẻ này hèn nhát v.v... Công luận còn đó, há chẳng nên cẩn thận lắm sao?
Xem thế đủ biết Thánh thiên tử có ý ban khen khuyến khích rất sâu sắc, lòng kỳ vọng rất mực, sự khích lệ cao cả chân thành hơn cả xưa nay. Đó là vì vua muốn được người chân Nho giúp việc trị nước, truyền lại cơ đồ tốt đẹp cho con cháu đời sau. Thế thì việc khắc đá đề danh chẳng những là tốt đẹp cho đất nước muôn vạn năm, mà cũng là phúc lớn cho con thần cháu thánh muôn vạn đời.
Thần kính cẩn làm bài ký.
Hiển cung đại phu Hàn lâm viện Thị giảng Đông các Hiệu thư Đào Cửvâng sắc soạn.
Cẩn sự Thị lang Trung thư giám Chính tự Nguyễn Tủng vâng sắc viết chữ (chân).
Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Tô Ngại vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484).
Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ,3 người:
LƯƠNG THẾ VINH 梁世榮6 người huyện Thiên Bảnphủ Nghĩa Hưng.
NGUYỄN ĐỨC TRINH 阮德貞7 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
QUÁCH ĐÌNH BẢO 郭廷寶8 người huyện Thanh Lan phủ Tân Hưng.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 15 người:
PHẠM LỖ 范 魯9 người huyện Đường An phủ Thượng Hồng.
NGUYỄN TÀI 阮才10 người huyện Tứ Kỳphủ Hạ Hồng.
DƯƠNG VĂN ĐÁN 楊文旦11 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
NGUYỄN TƯỜNG 阮祥12 người huyện Tân Phong phủ Tam Đới.
LÊ ĐÌNH TUẤN 黎廷俊13 người huyện Tế Giang phủ Thuận An.
ĐÀO BẠT 陶拔14 người huyện Bình Hà phủ Nam Sách.
ĐỖ HÂN 杜欣15 người huyện Thanh Miện phủ Hạ Hồng.
PHẠM NGỮ 范語16 người huyện Nghi Xuân phủ Đức Quang.
NGUYỄN KÝ 阮驥17 người huyện Chí Linh phủ Nam Sách.
VŨ NHỮ NHUẾ 武汝芮18 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
HOÀNG BỒI 黃培19 người huyện Phúc Lộc phủ Quốc Oai.
ĐINH THÚC THÔNG 丁叔通20 huyện Gia Viễn phủ Trường Yên.
VŨ HỮU 武有21 người huyện Đường An phủ Thượng Hồng.
NGUYỄN ĐÌNH LIÊU 阮廷僚22 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
LƯU CÔNG NGẠN 劉公彥23 người huyện Thủy Đường phủ Kinh Môn.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 26 người:
NGUYỄN ĐÌNH KHÔI 阮廷魁24 người huyện Quế Dương phủ Từ Sơn.
NGUYỄN TÔNG TÂY 阮宗西25 người huyện Thiên Lộc phủ Đức Quang.
PHẠM TỬ NGHI 范 子儀26 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.
NGUYỄN BÁ KỲ 阮伯騏27 người huyện Chương Đức phủ Ứng Thiên.
CHU LỘC 周祿28 người huyện Đường An phủ Thượng Hồng.
ĐỖ BÁ LƯỢC 杜伯略29 người huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai.
ĐÀO BẢO 陶寶30người huyện Phù Vân phủ Thường Tín.
PHẠM BÁ KÝ 范伯驥31người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.
TRẦN VĂN THIỆN 陳文善32 người huyện Đông Sơn phủ Thiệu Thiên.
NGUYỄN XUÂN DƯƠNG 阮春陽33 người huyện Hoằng Hóa phủ Hà Trung.
PHẠM LƯƠNG 范良34 người huyện Tiên Du phủ Từ Sơn.
ĐÀO TUẤN KHANH 陶俊卿35 người huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín.
NGUYỄN TÔNG 阮琮36 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.
ĐÀO VĂN HIỂN 陶文顯37 người huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.
LÊ NGHĨA 黎義38 người huyện Bình Hà phủ Nam Sách.
PHẠM NẠI范櫀39 người huyện Chương Đức phủ Ứng Thiên.
NGUYỄN CẤU 阮構40 người huyện Tân Phúc phủ Bắc Giang.
CÁI PHÙNG 蓋馮41 người huyện Thiên Thi phủ Khoái Châu.
PHẠM PHỔ 范溥42 người huyện Bình Lục phủ Lỵ Nhân.
DƯƠNG ĐỨC NHAN 楊德顏43 người huyện Vĩnh Lại phủ Hạ Hồng.
NGUYỄN CÔNG ĐỊNH 阮公定44 người huyện Thanh Lan phủ Tân Hưng.
HẠ CẢNH ĐỨC 夏景德45 người huyện Yên Lạc phủ Tam Đới.
NHỮ VĂN LAN 汝文蘭46 người huyện Tân Minh phủ Nam Sách.
NGUYỄN CƯ TRUNG 阮居中47 người huyện Cẩm Giàng phủ Thượng Hồng.
NGUYỄN VĂN CHÍNH 阮文正48 người huyện Đông Yên phủ Khoái Châu.
NGUYỄN NHƯ TRÁC 阮如琢49 người huyện Kim Thành phủ Kinh Môn.
Chú thích:
1. Lộc minh: Tên bài thơ đầu tiên trong phần Tiểu nhã của Kinh Thi, có câu đầu: "Ao ao lộc minh", tả con hươu cất tiêng kêu gọi chúng bạn ra bãi núi ăn cỏ non. Bài thơ này từng được phổ nhạc dùng trong các buổi yến hội ở triều đình nhà Chu.
2. Chỉ vua Lê Tương Dực.
3. Nguyên Khải: Họ Cao Tân có 8 người con có tài đức, thiên hạ gọi là Bát Nguyên. Họ Cao Dương cũng có 8 người con hiền có tài đức, thiên hạ gọi là Bát Khải.
4. Nhạc mục: Nhạc là chức quan Tứ nhạc, tức các vị chư hầu bốn phương. Mục là chức quan đứng đầu một châu.
5. Nguyên văn: “Bạt mao liên nhự” (Nhổ cỏ tranh được luôn cả cụm rễ), nói ý vì cùng loài nên liên quan chằng chịt với nhau. Vì hình tượng nhấc gốc tranh lên cao trên mặt đất cũng như người dân thường do thi cử được cất nhắc (đề bạt) lên địa vị cao trong xã hội, nên thơ văn xưa khi nói việc thi cử thường dẫn câu này.
6. Lương Thế Vinh (1441-?) người thôn Cao Hương huyện Thiên Bản (nay thuộc xã Liên Bảo huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định). Ông làm quan thăng đến chức Hàn lâm viện Thị giảng Chưởng viện sự, Nhập thị Kinh diên, Tri Sùng văn quán. Sinh thời, không sách nào ông không đọc. Sau khi mất, ông được phong phúc thần ở thôn Cao Hương.
7. Nguyễn Đức Trinh (1439-1472) người làng An Giới huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã An Sơn huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Ông giữ chức Phó Đô Ngự sử và được cử đi sứ (năm 1471) sang nhà Minh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư.
8. Quách Đình Bảo (1444-?) người làng Phúc Khê huyện Thanh Lan (nay thuộc xã Thái Phúc huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình). Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Lại, Thượng thư Bộ Hình kiêm Đô Ngự sử, Thượng thư Bộ Lễ và được cử đi sứ (năm 1740) sang nhà Minh (Trung Quốc).
9. Phạm Lỗ (?-?) người xã Lỗi Dương huyện Đường An (nay thuộc xã Thái Học huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Hình.
10. Nguyễn Tài (?-?) người làng Hương Quất huyện Tứ Kỳ (nay thuộc xã Kỳ Sơn huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông từng làm quan Hiến sát sứ.
11. Dương Văn Đán (?-?) người xã Hà Lỗ huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Liên Hà huyện Đông Anh Tp.Hà Nội). Ông làm quan Thừa chính sứ và được cử đi sứ (năm 1486) sang nhà Minh (Trung Quốc).
12. Nguyễn Tường (?-?) người xã Cao Cương huyện Tân Phong (nay thuộc xã Đông Quang huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây. Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Hình.
13. Lê Đình Tuấn (?-?) người xã Thanh Lãng huyện Tế Giang (nay thuộc xã Minh Hải huyện Châu Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Đông các Hiệu thư.
14. Đào Bạt (?-?) người xã Tiền Liệt huyện Bình Hà (nay thuộc xã Tân Phong huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư.
15. Đỗ Hân (?-?) người xã Cao Mặc huyện Thanh Miện (nay thuộc xã Cao Thắng huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Tả Thị lang.
16. Phạm Ngữ (1434-?) nguyên quán xã Phan Xá huyện Nghi Xuân (nay thuộc xã Xuân Mỹ huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh), trú quán xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Ninh Hiệp huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thiêm đô Ngự sử.
17. Nguyễn Ký (1434-?) người thôn Linh Giang huyện Chí Linh (nay thuộc xã Nam Hưng huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lại.
18. Vũ Nhữ Nhuế (1435-?) người xã Thượng Đặng huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Nam Trung huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hàn lâm Khởi cư trú.
19. Hoàng Bồi (1437-?) người xã Cam Giá Hạ huyện Phúc Lộc (nay thuộc xã Cam Thượng huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hộ kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám.
20. Đinh Thúc Thông (1442-?) nguyên quán xã Quan Vinh huyện Gia Viễn (nay thuộc huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình), trú quán xã Vũ Lăng huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Thắng Lợi huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư.
21. Vũ Hữu (1444-1530) hiệuƯớc Trai, người xã Mộ Trạch huyện Đường An (nay là thuộc xã Tân Hồng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lễ. Sau này ông có ra làm quan cho nhà Mạc.
22. Nguyễn Đình Liêu (1443-?) người xã Cối Giang huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Mai Lâm huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thượng thư.
23. Lưu Công Ngạn (?-?) người xã Khúc Lễ huyện Thủy Đường (nay thuộc huyện Thủy Nguyên Tp. Hải Phòng). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
24. Nguyễn Đình Khôi (1436-?) người xã Bồng Lai huyện Quế Dương (nay thuộc xã Bồng Lai huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan đến Hữu Thị lang.
25. Nguyễn Tông Tây (1436-?) người xã Thời Hoạch huyện Thiên Lộc (nay thuộc xã Thạch Châu huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh). Ông từng giữ chức Tri phủ Phụng Thiên, thăng đến chức Thừa chính sứ kiêm Quản đô lực sĩ.
26. Phạm Tử Nghi (?-?) người xã Bảo Đà huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Bình Minh huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Hình.
27. Nguyễn Bá Kỳ (?-?) người xã Viên Nội huyện Chương Đức (nay thuộc xã Viên Nội huyện Ứng Hòa tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thị lang.
28. Chu Lộc (?-?) người xã Phù Vân huyện Đường An (nay thuộc huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Hiến sát sứ.
29. Đỗ Bá Lược (1436-?) người xã Vĩnh Kỳ huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Tân Hội huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan Chuyển vận sứ, Hàn lâm Thừa chỉ.
30. Đào Bảo (?-?) người xã Gia Cầu huyện Phù Vân (nay thuộc xã Tân Dân huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thừa chính sứ.
31. Phạm Bá Ký (?-?) người xã Canh Hoạch huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Dân Hòa huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư Bộ Binh.
32. Trần Văn Thiện (1438-?) người xã Phủ Lý huyện Đông Sơn (nay thuộc xã Thiệu Trung huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hình.
33. Nguyễn Xuân Dương (1440-?) người xã Từ Minh huyện Hoằng Hóa (nay thuộc xã Hoằng Quang huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Tri huyện.
34. Phạm Lương (?-?) người xã Chi Lê huyện Tiên Du (nay thuộc xã Tân Chi huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thừa chính sứ.
35. Đào Tuấn Khanh (?-?) người xã Vũ Lăng huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Thắng Lợi huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư.
36. Nguyễn Tông (?-?) người xã Nghĩa Lộ huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Yên Nghĩa huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Phủ doãn phủ Phụng Thiên.
37. Đào Văn Hiển (?-?) người xã An Bồ huyện Tứ Kỳ (nay thuộc xã Dũng Tiến huyện Vĩnh Bảo Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hình và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
38. Lê Nghĩa (?-?) người xã Đại Điền huyện Bình Hà (nay thuộc xã Hồng Lạc huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Hàn lâm viện Thừa chỉ kiêm Sử quan.
39. Phạm Nại (?-?) người xã Viên Nội huyện Chương Đức (nay thuộc xã Viên Nội huyện Ứng Hoà tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang.
40. Nguyễn Cấu (?-?) người xã Khuông Lễ huyện Tân Phúc (nay thuộc huyện Sóc Sơn Tp. Hà Nội). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
41. Cái Phùng (1440-?) người xã Thổ Hoàng huyện Thiên Thi (nay thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lại, quyền Thượng thư Bộ Binh.
42. Phạm Phổ (?-?) người xã Yên Bài huyện Bình Lục (nay thuộc xã Trịnh Xá huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam). Ông giữ các chức quan, như Thái tử Thị giảng, sau đổi sang võ chức làm Chỉ huy sứ.
43. Dương Đức Nhan (?-?) người xã Hà Dương huyện Vĩnh Lại (nay thuộc xã Cộng Hiền huyện Vĩnh Bảo Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Hình, tước Dương Xuyên hầu.
44. Nguyễn Công Định (?-?) người xã Biền Cán huyện Thanh Lan (nay thuộc xã Thái Hưng huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hộ.
45. Hạ Cảnh Đức (1436-?) người xã Địa Tang huyện Yên Lạc (nay thuộc xã Vĩnh Sơn huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Hình khoa Đô Cấp sự trung.
46. Nhữ Văn Lan (?-?) người xã An Từ huyện Tân Minh (nay thuộc xã Kiến Thiết huyện Tiên Lãng Tp. Hải Phòng). Ông ngoại của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông làm quan Thượng thư Bộ Hộ. Sau khi mất, ông được phong phúc thần.
47. Nguyễn Cư Trung (?-?) người xã Hiển Dương huyện Cẩm Giàng (nay thuộc huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương).
48. Nguyễn Văn Chính (?-?) người xã Dương Trạch huyện Đông Yên (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tư nghiệp Quốc tử giám.
49. Nguyễn Như Trác (?-?) người xã Viên Đổ huyện Kim Thành (nay thuộc huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương). Ông từng làm quan Tri huyện.
Tử Hà
04-15-09, 07:19:58 PM
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA BÍNH TUẤT NIÊN HIỆU QUANG THUẬN NĂM THỨ 7 (1466)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_735.jpg
Trời giúp hoàng gia, văn minh thịnh trị, trọng dùng hiền tài, thịnh hành khoa mục. Vào năm Bính Tuất niên hiệu Quang Thuận thứ 7 (1466) là năm mở khoa thi Hội, Bộ Lễ tập hợp hơn 1.100 sĩ tử tới kinh đô dự thi đua tài văn chương, chọn được 27 người ưu tú.
Ngày 12 tháng 3, Hoàng thượng ngự điện Kính Thiên, đích thân ra bài thi. Sai Đề điệu là Sùng tiến Nhập nội Hữu Đô đốc kiêm Thái tử Thiếu bảo Lê Cảnh Huy, quyền Thượng thư Chính sự viện kiêm Cẩn Đức điện Đại học sĩ Thái tử tân khách Nguyễn Như Đổ; Giám thí là Hàn lâm viện Đại học sĩ, quyền Ngự sử đài Ngự sử đại phu Trần Bàn cùng trăm quan nghiêm túc chia giữ các việc.
Hôm sau, quan Độc quyển là Hàn lâm viện Thừa chỉ Nguyễn Trực, Hàn lâm viện Thừa chỉ quyền Hữu Thị lang Bộ Hộ kiêm Cẩn Đức điện Đại học sĩ Nhập thị Kinh diên kiêm Tả xuân phường Thái tử Tả dụ đức Nguyễn Cư Đạo, Hàn lâm viện Học sĩ hành Hải tây đạo Tuyên chính sứ ty Tham tri kiêm Bí thư giám Học sĩ Vũ Vĩnh Trinh dâng quyển lên đọc, Hoàng thượng xem xét, định thứ bậc cao thấp. Cho bọn Dương Như Châu 8 người đỗ Tiến sĩ, bọn Nguyễn Nhân Thiếp 19 người đỗ đồng Tiến sĩ.
Ngày 26 làm lễ xướng danh, ban cho ân mệnh. Quan Bộ Lễ rước bảng vàng ra treo ngoài cửa Đông Hoa để tỏ sự vinh quang, lại ban cho áo mũ, yến tiệc. Mồng 3 tháng 3 nhuận, các Tiến sĩ được vinh quy. Triều đình hậu lễ ưu đãi kẻ sĩ, ơn vinh thật rất mực vậy. Nhưng lúc bấy giờ bia đá đề danh vẫn chưa dựng. Đến năm nay là năm Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức năm thứ 15 (1484) mới sai thần là (Đàm) Văn Lễ soạn bài ký khắc vào đá dựng ở cửa nhà Thái học để làm cho thịnh điển được đầy đủ. Thần tự thấy mình là kẻ vụng về nông cạn, sao đủ sức tuyên dương thánh điển! Kính nghĩ Thánh thiên tử ưu đãi nhân tài, vì tư văn thế đạo mà lo nghĩ, rộng mở quy mô mẫu mực cho đời sau. Thần kính vâng lời ngọc, xiết bao cảm kích, rất mực vui mừng, kính cẩn cúi đầu rập đầu làm bài ký.
Trời đất không có dụng tâm mà làm nên cuộc sinh hóa, chính nhờ có bốn mùa giúp công; thánh nhân dụng tâm mà để tự nhiên như chẳng làm, giao phó cho nhân tài giúp trị. Nhân tài đối với quốc gia có quan hệ rất lớn vậy. Cho nên kẻ sĩ phải có dưỡng dục, về sau mới mong nổi bật tiếng tăm. Lại phải lựa chọn bổ dụng, về sau mới khỏi bỏ sót hiền tài ở nơi thôn dã. Xét từ các đời Đường Ngu Tam đại, cho đến mấy đời Hán Đường Tống, các trường học được lập ra thì nhân tài mới có chỗ tác thành. Phép khoa cử có thi hành thì nhân tài mới được trọng dụng. Mặc dầu hiệu quả trị nước hay dở khác nhau, song các đời chưa từng không coi sự thu dụng nhân tài làm việc trước tiên vậy.
Kính nghĩ thánh triều, Thái Tổ Cao hoàng đế định yên đất nước, chăm lo giáo dục anh tài. Thân hành hỏi han rộng khắp tìm kiếm hiền tài; đích thân chiêu vời thi hạch học sĩ. Mặc dầu tên khoa Tiến sĩ chưa đặt, mà khí mạch nền tư văn đã nối liền; há chẳng phải việc gây dựng một thế hệ nhân tài được bắt đầu từ đây ư?
Thái Tông Văn hoàng đế sáng suốt kế thừa tiên đế, chấn chỉnh Nho phong, khuyến khích hiền tài cả nước, kẻ sĩ họp lại như mây, lại xem xét điển chế của tiên vương để đổi mới khoa mục. Bắt đầu từ năm Nhâm Tuất mở khoa thi, hiền tài lọt vào vòng trọng dụng, cổ động chí khí anh hào trong bốn bể, mở mang vận hội văn chương thịnh đạt muôn vạn năm, há chẳng phải gọi là mở đường giúp người sau, không để có chỗ thiếu sót đó chăng?
Nhân Tông hoàng đế giữ gìn nền nếp đã hoàn thành đầy đủ, mọi việc đều theo khuôn nối phép, mở mang khoa cử, khiến cho nền nhân văn càng rạng tỏ thêm.
Kính nghĩ Hoàng thượng là bậc vua bậc thầy của muôn dân, nắm quyền định đoạt, trọng dụng Nho sĩ để tô điểm thái bình. Năm Quý Mùi (1463) là khoa thứ nhất trong buổi Trung hưng, lấy nhân tài nhiều hơn mấy khoa trước. Đó là nhờ liệt thánh đã dày công hun đúc tác thành, nay đã đến ngày hái quả, trồng cây kỷ cây tử để lấy gỗ làm rường làm cột. Nhưng từ năm Nhâm Tuất (1442) đến năm Quý Mùi (1463) hoặc 6 năm thi một lần, hoặc 5 năm đặt một khoa, lòng Hoàng thượng vẫn lo là chưa đủ để chiêu vời kẻ sĩ. Bèn xem đủ sách hội điển các triều, châm chước định ra quy chế 3 năm mở một khoa, lấy từ năm Bính Tuất này (1466) làm khoa đầu. Những người thi đỗ trong khoa này đều tỏ ra xứng đáng. Nay về đường văn học chính trị, bổ nhiệm người chăn dân ở các địa phương, thảy đều từ kỳ thi ấy mà ra. Từ nay về sau pháp độ thành văn càng thêm đầy đủ. Thi Hội có sách đăng khoa đã đủ để biểu dương sự thịnh vượng của đương thời, khắc đá đề danh có bia lại càng thêm đủ để khuyến khích rộng rãi cho đời sau.
Thế thì những người được ghi tên lên tấm đá này phải nên cảm kích ơn vua, trau mài danh tiết để lo đền đáp. Còn các sĩ tử ngước mắt nhìn lên cũng sẽ hăng hái lòng trung nghĩa, trau giồi học hành, đức hạnh để mong có ngày hiển dương đắc dụng. Như thế là để đợi chờ bậc tuấn kiệt theo nhau mà đến, kẻ tài năng chân chính xuất hiện tiếp nhau, văn chương đủ để giúp nước, đạo đức đủ để giúp đời, là để cho vua và dân ta được như vua và dân đời Nghiêu Thuấn, là để cho lễ nhạc nước ta được như lễ nhạc đời Ân, Chu. Nhân tài nước nhà thịnh vượng, hiệu quả chính trị tốt đẹp, càng lâu xa càng lớn lao sáng láng. Thế thì các bậc thánh tổ thần tông xây dựng quy mô, khuyến khích phong hóa chẳng những làm vẻ vang cho một thời, lại còn nêu cao nếp tốt cho muôn thuở. Guồng máy cổ vũ chấn hưng, diệu kế hun đúc xoay chuyển cũng lớn lao cùng với càn khôn, công tạo tác sánh ngang tạo hoá, càng lâu dài càng bền vững, rạng rỡ đời đời, đúng như câu cách ngôn "Cùng trong phạm vi trời đất mà tạo tác muôn vật không bỏ sót", đạo đức cao cả, công nghiệp lớn lao thật rất mực vậy!
Thần kính cẩn làm bài ký.
Mậu lâm lang Đông các Hiệu thư Đàm Văn Lễ(1) vâng sắc soạn.
Cẩn sự lang Trung thư giám Chính tự Nguyễn Tủng vâng sắc viết chữ (chân).
Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu bề tôi là Tô Ngại vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484).
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 8 người:
DƯƠNG CHÂU 楊珠(2)người xã Lạc Thổ huyện Siêu Loại.
BÙI VIẾT LƯƠNG 裴曰良(3)người xã Dũng Tuyền huyện Nam Xương.
QUÁCH HỮU NGHIÊM 郭有嚴(4)người xã Phúc Khê huyện Thanh Lan.
HÀ CÔNG TRÌNH 何公程(5)người xã Tỉnh Thạch huyện Thiên Lộc.
LƯƠNG HỐI 梁誨(6)người xã Hà Lỗ huyện Đông Ngàn.
NGUYỄN ĐÔN PHỤC 阮敦復(7)người xã Tri Lễ huyện Thanh Oai.
ĐOÀN LẠN 段爛 (8)người xã Hồng Lục huyện Gia Lộc9.
PHẠM THỪA NGHIỆP 范承業(10)người xã Ngọ Kiều huyện Gia Lâm.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 19 người:
NGUYỄN NHÂN THIẾP 阮仁浹(11)người xã Kim Đôi huyện Vũ Giàng12
NGUYỄN QUANG LỘC 阮光祿(13)người phường Đông Các huyện Thọ Xương.
NGUYỄN TẤT BỘT 阮必勃(14) người xã Lỗ Tông huyện Thạch Hà.
NGUYỄN NHÂN BỊ 阮仁被(15)người xã Kim Đôi huyện Vũ Giàng.
ĐỖ NHUẬN 杜潤(16)người xã Kim Hoa huyện Kim Hoa.
NGUYỄN VĂN THÔNG 阮文通(17)người xã Xuân Hy huyện Kim Hoa.
NGUYỄN CHƯƠNG 阮章(18)người xã Thiên Đông huyện Tiên Lữ.
NGUYỄN BÁ DUNG 阮伯榕(19) người xã Vũ Di huyện Bạch Hạc.
NGUYỄN CHẤN 阮震(20) người huyện Trường Tân.
BÙI KHẢN 裴侃(21)người xã An Khoái huyện Thanh Miện.
HOÀNG NHÂN BẢN 黃仁本(22)người xã Sơn Đồng huyện Đan Phượng.
LÊ THÚC CHẨN 黎叔縝(23)người xã Sơn Đông huyện Lập Thạch.
THÁI TẤT TIÊN 蔡必先(24)người xã Do Lễ huyện Hưng Nguyên.
NGUYỄN DOÃN TRUÂN 阮允屯(25)người xã Lực Hành huyện An Dương.
NGÔ LÔI 吳雷(26)người xã Phúc Khê huyện Đông Ngàn.
PHẠM DOANH 范瀛(27) người xã Khê Tang huyện Thanh Oai.
MẠC ĐỨC TUẤN 莫德濬(28)người xã Triền Hà huyện Bình Hà.
ĐÀO CỬ 陶舉(29)người xã Thuần Khang huyện Siêu Loại.
HÀ NGHIỄM 何儼(30)người xã Kim Hoa huyện Kim Hoa.
Đề điệu:
Sùng tiến Nhập nội Hữu Đô đốc kiêm Thái tử Thiếu bảo Lê Cảnh Huy.
Quyền Thượng thư Chính sự viện kiêm Cẩn Đức điện Đại học sĩ Thái tử tân khách Nguyễn Như Đổ.
Độc quyển:
Hàn lâm viện Thừa chỉ Nguyễn Trực, kiêm Cẩn Đức điện Đại học sĩ Nhập thị Kinh diên kiêm Tả xuân phường Thái tử Tả dụ đức Nguyễn Cư Đạo.
Hàn lâm viện Học sĩ, hành Hải tây đạo tuyên Chính sứ ty Tham tri kiêm Bí thư giám Học sĩ Vũ Vĩnh Trinh.
Giám thí:
Hàn lâm viện Đại học sĩ, quyền Ngự sử đài Ngự sử đại phu Trần Bàn.
Chú thích:
1. Đàm Văn Lễ (1452-1505) người xã Lãm Sơn huyện Quế Dương (nay thuộc xã Nam Sơn huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh, đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu Quang Thuận thứ 10 (1469), làm quan triều Lê Thánh Tông đến chức Thượng thư Bộ Lễ kiêm Chưởng Hàn lâm viện sự, từng đi sứ sang nhà Minh. Sau khi Hiến Tông mất, ông cùng Nguyễn Quang Bật nhận di chiếu lập Túc Tông. Đến khi Uy Mục lên ngôi, ông bị biếm chức, điều đi làm Thừa chánh sứ Quảng Nam, trên đường đi, đến Nghệ An ông bị sứ giả của Uy Mục đuổi theo bắt phải chết, ông khẩu chiến một bài thơ rồi ung dung nhảy xuống sông Lam tự tử (1505).
2. Dương Châu (1448-?) người xã Lạc Thổ huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Song Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Tri chế cáo, sau bị giáng xuống Hồng lô Tự thừa. Có sách ghi là Dương Như Châu.
3. Bùi Viết Lương (?-?) nguyên quán xã Văn Lang huyện Ngự Thiên (nay thuộc xã Văn Lang huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình), trú quán xã Dũng Kim huyện Nam Xương (nay thuộc thị trấn Vĩnh Trụ huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam). Ông làm quan Thượng thư và từng được cử đi sứ (năm 1471) sang nhà Minh (Trung Quốc).
4. Quách Hữu Nghiêm (1445-?) người làng Phúc Khê huyện Thanh Lan (nay thuộc xã Thái Phúc huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lại kiêm Đô Ngự sử và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
5. Hà Công Trình (1437-?) người xã Tỉnh Thạch huyện Thiên Lộc (nay thuộc xã Hậu Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh). Ông giữ các chức quan, như Tế tửu Quốc tử giám, Thượng thư Bộ Công, Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư Bộ Binh, Nhập thị Kinh diên.
6. Lương Hối (?-?) người xã Hà Lỗ huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Liên Hà huyện Đông Anh, Tp. Hà Nội). Ông từng làm quan Vương phó (thày dạy học các vương tử).
7. Nguyễn Đôn Phục (?-?) người xã Tri Lễ huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Tân Ước huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang kiêm Đông các Đại học sĩ và được cử đi sứ (năm 1474) sang nhà Minh (Trung Quốc).
8. Đoàn Lạn (?-?) người xã Hồng Lục huyện Trường Tân (nay thuộc xã Tân Hưng huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thừa tuyên sứ và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
9. Đời Lê sơ chưa có tên huyện Gia Lộc. Huyện này, đời Lý-Trần và đầu đời Lê sơ là huyện Trường Tân thuộc châu Hạ Hồng. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đời Lê Thánh Tông, khi lập Nam Sách thừa tuyên, huyện Trường Tân đổi tên là huyện Gia Phúc thuộc phủ Hạ Hồng. Đời Tây Sơn, kiêng chữ Phúc (chữ họ Nguyễn Phúc của các chúa Nguyễn), đổi là huyện Gia Lộc. Tên huyện từ đó không thay đổi. Nay là huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương.
10. Phạm Thừa Nghiệp (?-?) nguyên quán xã Ngọ Cầu huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Như Quỳnh huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên), trú quán xã Lâm Hạ (nay thuộc phường Bồ Đề quận Long Biên Tp. Hà Nội). Ông làm quan Đô Ngự sử và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
11. Nguyễn Nhân Thiếp (1452-?) người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Kim Chân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), trú quán xã Lạc Thổ huyện Đan Phượng (nay thuộc huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lại.
12. Tên đời Lê sơ: Huyện Vũ Ninh.
13. Nguyễn Quang Lộc (1418-?) người phường Đông Các huyện Vĩnh Xương (nay thuộc quận Ba Đình Tp. Hà Nội). Sự nghiệp của ông chưa rõ.
14. Nguyễn Tất Bột (1439-?) người xã Tông Lỗ huyện Thạch Hà (nay thuộc huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh). Ông giữ các chức quan, như Phủ doãn phủ Phụng Thiên, Hữu Thị lang.
15. Nguyễn Nhân Bị (1448-?) người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Kim Chân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan đến Thượng thư Bộ Binh và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
16. Đỗ Nhuận (1446-?) người xã Kim Hoa huyện Kim Hoa (nay thuộc xã Kim Hoa huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Thượng thư, Đông các Đại học sĩ và được vời vào hoàng cung dạy học cho vương tử. Vua Lê Thánh Tông phong cho ông làm Tao Đàn phó nguyên soái, mời dự các buổi bình thơ của vua.
17. Nguyễn Văn Thông (?-?) người xã Xuân Hy huyện Kim Hoa (nay thuộc xã Phúc Thắng huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Thượng thư kiêm Đông các Học sĩ.
18. Nguyễn Chương (1436-?) người xã Thiên Đông huyện Tiên Lữ (nay thuộc xã Dị Chế huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Đô Ngự sử.
19. Nguyễn Bá Dung (?-?) người xã Vũ Di huyện Bạch Hạc (nay thuộc xã Vũ Di huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Hàn lâm viện Hiệu thảo.
20. Nguyễn Chấn (?-?) người huyện Trường Tân (nay thuộc huyện Tứ Kì tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Đô Cấp sự trung.
21. Bùi Khản (?-?) người làng An Khoái huyện Thanh Miện (nay thuộc xã Tứ Cường huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Đô Cấp sự trung.
22. Hoàng Nhân Bản (1444-?) người xã Sơn Đồng huyện Đan Phượng (nay thuộc xã Sơn Đồng huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Hiến sát sứ và từng được cử đi sứ.
23. Lê Thúc Chẩn (1435-?) người xã Sơn Đông huyện Lập Thạch (nay thuộc xã Sơn Đông huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Đô Ngự sử.
24. Thái Tất Tiên (1435-?) người xã Do Lễ huyện Hưng Nguyên (nay thuộc xã Hưng Tân huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An). Ông làm quan Tham chính.
25. Nguyễn Doãn Truân (1439-?) nguyên quán xã Trung Hành huyện An Dương (nay thuộc xã Đằng Lâm huyện An Hải Tp. Hải Phòng), trú quán xã Hà Nội huyện Kim Thành (nay thuộc huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương). Ông từng làm quan Hữu Thị lang.
26. Ngô Lôi (?-?) người xã Phù Khê huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Phù Khê huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Sau ông đổi sang ngạch quan võ, thăng đến Tổng binh Thiêm sự và được cử đi sứ.
27. Phạm Doanh (?-?) người xã Khê Tang huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Cự Khê huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang.
28. Mạc Đức Tuấn (?-?) người xã Mặc Thư huyện Bình Hà (nay thuộc xã Liên Mạc huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư.
29. Đào Cử (1499-?) người xã Thuần Khang huyện Siêu Loại (nay thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan đến Thượng thư Bộ Hộ kiêm Sùng văn quán Tú lâm cục.
30. Hà Nghiễm ( ?-1474) người xã Kim Hoa (nay thuộc xã Kim Hoa huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan đến Tả Thị lang Bộ Lại.
Tử Hà
04-15-09, 07:21:03 PM
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA ẤT MÙI NIÊN HIỆU HỒNG ĐỨC NĂM THỨ 6 (1475)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_814.jpg
Nước Hoàng Việt đổi niên hiệu Hồng Đức đến năm thứ 6, đúng lúc mở khoa thi lớn, sĩ tử tới kinh đô dự thi đông đến trên ba nghìn. Qua bốn trường, lấy trúng cách được 43 người.
Ngày 11 tháng 5, Hoàng thượng ngự điện Kính Thiên, xuống chỉ hỏi thi sách vấn. Sai Vinh tiến trấn quốc Thượng tướng quân Phò mã Đô uý Đô đốc phủ Tả Đô đốc Đông quân Đoan võ Bá trụ quốc Trịnh Công Lộ, Phụng trực đại phu Thượng thư Bộ Lại Hoàng Nhân Thiêm, Phụng trực đại phu Thái tử Thiếu bảo Ngự sử đài Đô Ngự sử Trần Phong, Triều liệt đại phu Hàn lâm viện Thị độc kiêm Đông các Học sĩ Thân Nhân Trung, Hiển cung đại phu Đông các Hiệu thư Đỗ Nhuận, Mậu lâm lang Đông các Hiệu thư Quách Đình Bảo chia giữ các việc.
Khi dâng đọc quyển thi, Hoàng thượng ban cho bọn Vũ Tuấn Chiêu đỗ Tiến sĩ cập đệ, Tiến sĩ xuất thân, đồng Tiến sĩ xuất thân có thứ bậc khác nhau. Ơn vinh trên dưới đều tuân theo thể thức. Duy việc dựng bia quan Hữu ty chưa kịp cử hành. Nay Bộ Lễ vâng mệnh, sắp xếp họ tên theo thứ tự mà truy khắc bia. Lại ban sắc bảo thần là (Lê) Ngạn Tuấn soạn bài ký. Thần kính vâng tuân mệnh sáng, bất giác mồ hôi ướt đầm, kính cẩn cúi đầu rập đầu dâng lời rằng:
Hiền tài đối với quốc gia, cũng như nguyên khí con người ta không thể một ngày không có. Việc tuyển chọn ắt phải có đường lối, khuyến khích ắt phải có phương châm. Xưa ở đời Thành Chu, trong làng bàn chọn người ưu tú trong số người có học, rồi dâng lên quan Tư đồ, gọi là Tuyển sĩ. Quan Tư đồ lựa chọn hạng ưu tú trong đám Tuyển sĩ rồi dâng lên triều đình, gọi là Tạo sĩ. Quan Đại tư nhạc lại lựa chọn hạng ưu tú nhất đem tâu lên vua và đưa tên lên quan Tư mã, gọi là Tiến sĩ. Tất phải bàn bạc lựa chọn xong rồi mới bổ chức quan, bổ quan rồi mới phong tước. Lựa chọn kỹ càng, khuyến khích đến nơi đến chốn như thế. Cho nên bấy giờ thơ Quyển a có câu: "Kẻ sĩ đông nườm nượp", thơ Vực phốc có câu: "Kẻ sĩ tốt rườm rà". Kinh Thi nói: "Nhớ nhiều kẻ sĩ, sinh ở nước vua", lại nói: "Kẻ sĩ dồi dào, Văn Vương yên ổn", há phải việc ngẫu nhiên đâu! Về sau, các triều Tuỳ, Đường rồi tới các triều Tống, Nguyên trên triều đình tìm kiếm, dưới dân gian tiến dâng, đều là mượn danh nghĩa đó, nhưng thực chất được người giúp cho nền trí trị thì vẫn còn có chỗ đáng bàn.
Kính nghĩ thánh triều: Thái Tổ Cao hoàng đế ra oai thần võ yên định giang sơn, mở rộng nhân văn giáo hóa thiên hạ. Thái Tông Văn hoàng đế lưu tâm nối theo phép trước, đảm nhận trọng trách của bậc vua bậc thầy, nối sáng chớp vận cơ thần võ, lò hun đúc ra sức tác thành. Từ năm Đại Bảo (1443) mở khoa thi mà quy mô chọn kẻ sĩ, dùng người hiền đã bắt đầu từ đó. Nhân Tông hoàng đế noi theo khuôn khổ, nối nghiệp thái bình. Nay Hoàng thượng1 noi theo nghiệp cả, mở rộng công xưa; lễ nhạc điển chương, khuôn phép có quy mô trật tự, tuyên bố văn vật, mới mẻ rõ ràng. Nhất là việc lập trường học, mở khoa thi, càng để lòng chăm chú hơn. Ngay từ hồi mới lên chấp chính, chưa vội làm việc khác, trước hết tới nhà Thái học, kế đó định khoa thi, ba xá2 ở Quốc tử giám tăng thêm người, chăm lo giáo dục. Thi Hương, thi Hội, thi Đình đều có sổ sách ghi chép để tỏ ý khuyến khích, khắc đá đề danh để lưu tới lâu dài, soạn bài ký để thuật lại công việc, ghi rõ sự thật. Lựa chọn kẻ sĩ ắt trước hết phải xét đức hạnh văn chương, tức là phép tốt của lệ hương cử vậy. Dùng người ắt trọng tiết tháo khí cốt rồi sau mới đến tài nghệ văn chương, tức là ý tốt bàn lựa bổ nhiệm quan chức vậy. Phép học phép thi có trật tự thứ lớp, đầy đủ như thế, lại đem tấm lòng thành thực sùng Nho, để đạt hiệu quả dùng Nho, đâu phải như các triều Tuỳ, Đường, Tống, Nguyên chỉ chuộng hư danh mà có thể sánh được. Đúng ra, đó là do nhân văn rực rỡ, trị hóa sáng đẹp, rạng trước lừng sau, vượt qua kim cổ, danh tiếng "sĩ nhiều nước thịnh" há chỉ riêng một nhà Thành Chu có được hay sao!
Bảng này là khoa thứ năm sau khi Trung hưng3, tuyên bố cầu tìm rộng rãi, lựa chọn thêm tinh, cho nên nức tiếng khen là chọn được nhiều nhân tài. Nay những người thi đỗ đều đã được bổ nhiệm khắp nơi. Có người giữ chức gián quan, có người hầu cận ở Cấm đình, có người dấn thân ở chốn phong sương, có người giữ quyền xét xử, cũng có người giữ chức biên soạn hoặc làm thày giảng dạy, có người lo việc chăn dân ở các phủ huyện, tất cả đều lo nung nấu lòng ngay, trau dồi tiết lớn, nêu cao thanh danh lừng lẫy, công nghiệp lỗi lạc, ngõ hầu trên không phụ ơn triều đình cất nhắc, dưới không phụ chí khí hoài bão trong đời. Thảng hoặc có kẻ không được như thế, đời sau sẽ có người chỉ vào tên mà bàn tán rằng: người này trung chính, kẻ kia gian tà; người này thanh liêm giữ mình, người kia tham lam mất chức; người này thẳng ngay như Cấp Ảm, Nguỵ Trưng; người kia nhu nhược như Tào Thừ, Lý Chí; người nọ làm quan mà có tiếng để đời, người kia được dùng mà truyền dạy kinh sách, ắt không tránh khỏi sự khen chê của người đời.
Thế thì bia đá này dựng lên không chỉ để nêu thanh danh và lưu tiếng tốt, khiến cho những người thi đỗ được vẻ vang nhất thời mà thôi đâu, mà thâm ý khuyên răn thực gửi vào trong đó.
Thần trăm lạy kính cẩn viết ra, cốt để dành cho những người trúng tuyển, và cũng là để tự khuyên mình.
Thần kính cẩn dâng bài ký.
Đông các Hiệu thư Mẫn sự Tá lang Lê Ngạn Tuấn4 vâng sắc soạn.
Cẩn sự lang Trung thư giám Chính tự Thái Thúc Liêm vâng sắc viết chữ (chân).
Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Tô Ngại vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484).
Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:
VŨ TUẤN CHIÊU 武濬昭5 người huyện Quảng Đức phủ Phụng Thiên.
ÔNG NGHĨA ĐẠT 翁義達6 người huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai.
CAO QUÝNH 高炯7 người huyện Đông Thành phủ Diễn Châu.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 13 người:
PHẠM XÁN 范燦8người huyện Đường An phủ Thượng Hồng.
TRẦN THÂM 陳深9người huyện Thiện Tài phủ Thuận An.
ỨNG NGẠN LƯỢNG 應彥亮10 người huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín.
VƯƠNG HIỂN 王顯11người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
NGUYỄN TẤN VĨ 阮晉偉12 người huyện Cẩm Giàng phủ Thượng Hồng.
LÊ QUẢNG DU 黎廣瑜13 người huyện Lôi Dương phủ Thiệu Thiên.
PHẠM HƯNG VĂN 范興文 14 người huyện Thanh Lan phủ Tân Hưng.
ĐỖ TRÍ TRUNG 杜致忠15người huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai.
KIỀU PHÚ 喬富16 người huyện Ninh Sơn phủ Quốc Oai.
NGUYỄN KIM 阮金17 người huyện Tiên Du phủ Từ Sơn.
ĐỖ TUYỀN 杜璿18người huyện Phụ Dực phủ Thái Bình.
VŨ MẪN TRÍ 武敏智19 người huyện Kim Thành phủ Kinh Môn.
NGUYỄN TUẤN 阮俊20 người huyện Đông Yên phủ Khoái Châu.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 27 người:
ĐỖ VINH 杜榮21 người huyện Trường Tân phủ Hạ Hồng.
PHAN PHÚC CẨN 潘福謹22 người huyện La Giang phủ Đức Quang.
NGUYỄN DUY TIẾU 阮惟俏 23 người huyện Vĩnh Lại phủ Hạ Hồng.
NGUYỄN ẤU MIỄN 阮幼勉24 người huyện Quế Dương phủ Từ Sơn.
NGUYỄN QUAN HIỀN 阮觀賢25 người huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai.
HOÀNG THIỆU 黃劭26 người huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai.
ĐỖ TƯƠNG 杜驤27người huyện Ngọc Sơn phủ Tĩnh Ninh.
NGUYỄN MINH KHANG 阮明康28 người huyện Ngự Thiên phủ Tân Hưng.
NGUYỄN TRINH 阮楨29 người huyện Lập Thạch phủ Tam Đới.
VŨ TRIỆU DUNG 武肇容30người huyện Phụ Dực phủ Thái Bình.
NGUYỄN CUNG 阮珙31 người huyện Bình Hà phủ Nam Sách.
NGUYỄN ĐẠC 阮鐸32 người huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn.
NGUYỄN TĨNH 阮靖33 người huyện Kim Hoa phủ Bắc Giang.
PHAN QUÝ 潘貴34 người huyện Siêu Loại phủ Thuận An.
THÁI THUẬN 蔡順35huyện Siêu Loại phủ Thuận An.
NGUYỄN SÙNG NGHÊ 阮崇齯36 người huyện Vĩnh Xương phủ Phụng Thiên.
TRẦN MÔ 陳謨37người huyện Đan Phượng phủ Quốc Oai.
ĐOÀN MẬU 段懋38 người huyện An Lão phủ Kinh Môn.
NGUYỄN LI CHÂU 阮驪珠39 người huyện Yên Lãng phủ Tam Đới.
NGUYỄN LỄ KÍNH 阮禮敬40 người huyện Yên Dũng phủ Lạng Giang.
TẠ ĐỨC HẢI 謝德海41người huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn.
TẠ THÔNG 謝聰42 người huyện Sùng Yên phủ An Bình.
NGUYỄN DƯƠNG HIẾN 阮陽憲43 người huyện Kim Hoa phủ Bắc Giang.
ĐỖ CHÍNH LẠC 杜政樂44 người huyện Đường An phủ Thượng Hồng.
NGÔ LUÂN 吳綸45 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
NGUYỄN TƯ PHỤ 阮資輔46người huyện Chí Linh phủ Nam Sách.
NGUYỄN TƯ PHÚC 阮滋福47 người huyện Lập Thạch phủ Tam Đới.
Đề điệu:
Vinh tiến Trần quốc Thượng tướng quân Phò mã Đô uý Đông quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Đoan Vũ bá Trịnh Công Lộ.
Phụng trực đại phu Thượng thư Bộ Lại Tư chính Thượng khanh Hoàng Nhân Thiệm.
Độc quyển:
Triều liệt đại phu Hàn lâm viện Thị độc kiêm Đông các Học sĩ Tu thiện doãn Thân Nhân Trung.
Hiển cung đại phu Đông các Hiệu thư Đỗ Nhuận.
Mậu lâm lang Đông các Hiệu thư Quách Đình Bảo.
Giám thí:
Phụng trực đại phu Thái tử Thiếu bảo Ngự sử đài Đô Ngự sử Tư chính Thượng khanh Trần Phong.
Mậu lâm lang Binh khoa Đô Cấp sự trung Phí Bá Khang.
Chú thích:
1. Chỉ vua Lê Thánh Tông.
2. Ở Quốc tử giám chia học sinh ở 3 xá: Thượng xá, Trung xá và Hạ xá, gọi là Tam xá.
3. Trung hưng ở đây chỉ việc dẹp tan vụ biến loạn tiếm quyền của Nghi Dân, dẫn đến việc lên ngôi của vua Lê Thánh Tông (1460).
4. Lê Ngạn Tuấn (?-?) nguyên quán xã Vĩnh Lộc huyện Tế Giang, trú quán xã Ngọc Bộ (nay thuộc xã Long Hưng huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên). Ông đỗ Hội nguyên, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn Hồng Đức 3 (1472), làm quan Thượng thư và được cử đi sứ (năm 1495) sang nhà Minh (Trung Quốc). Bia ở Văn Miếu tỉnh Bắc Minh và nhiều sách ghi ông là Lê Tuấn Ngạn.
5. Vũ Tuấn Chiêu (1426-?) nguyên quán xã Cổ Liễu huyện Tây Chân (nay thuộc xã Nam Hùng huyện Nam Trực tỉnh Nam Định), trú quán phường Nhật Chiêu huyện Quảng Đức (nay thuộc xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lại.
6. Ông Nghĩa Đạt (?-?) người xã Phú Gia huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Phú Thượng huyện Từ Liêm Tp.Hà Nội). Ông làm quan Phó Đô Ngự sử và được cử đi sứ (năm 1476) sang nhà Minh (Trung Quốc).
7. Cao Quýnh (1439-?) người xã Cao Xá huyện Đông Thành (nay thuộc huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An). Ông nguyên tên là Lỗ, vua Lê Thánh Tông đổi là Quýnh và làm quan Đông các Đại học sĩ.
8. Phạm Xán (1444-?) người xã Lỗi Dương huyện Đường An (nay thuộc xã Thái Học huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hàn lâm.
9. Trần Thâm (?-?) người xã Nhị Trai huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Minh Tân huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
10. Ứng Ngạn Lượng (1456-?) người xã Hưng Hiền huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Hiền Giang huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Hàn lâm viện Hiệu thảo.
11. Vương Hiển (1452-?) người xã Mặc Khê huyện Thanh Lâm (nay thuộc huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hiến sát sứ.
12. Nguyễn Tấn Vĩ (?-?) người xã Lôi Xá huyện Cẩm Giàng (nay thuộc xã Đức Chính huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Đề hình Giám sát Ngự sử.
13. Lê Quảng Du (1437-?) người xã Lỗ Hiền huyện Lôi Dương (nay thuộc huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Giám sát Ngự sử và được cử đi sứ (năm 1492) sang nhà Minh (Trung Quốc).
14. Phạm Hưng Văn (?-?) người xã Động Hối huyện Thanh Lan (nay thuộc xã Đông Vinh huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Đô Ngự sử và được cử đi sứ (năm 1497) sang nhà Thanh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư Bộ Hình.
15. Đỗ Trí Trung (1439-?) người xã Hạ Mỗ huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Hạ Mỗ huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tự khanh.
16. Kiều Phú (1447-?) ông hiệu là Ninh Sơn và tự Hiếu Lễ, người xã Lạp Hạ huyện Ninh Sơn (nay thuộc huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tham chính.
17. Nguyễn Kim (1443-?) người xã Nội Duệ huyện Tiên Du (nay thuộc xã Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Quốc tử giám Tư nghiệp. Bia Văn miếu Bắc Ninh ghi Nguyễn Dao.
18. Đỗ Tuyền (1434-?) người làng An Bài huyện Phụ Dực (nay thuộc xã An Bài huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Tham chính. Chữ “tuyền” đầu Nguyễn về trước vẫn đọc là “tuyền”, từ đời Thiệu Trị (1841-1847) vì kiêng tên huý của vua (Nguyễn Phúc Tuyền), nên các âm “tuyền” chuyển đọc thành “toàn” (như cách vẫn quen đọc hiện nay).
19. Vũ Mẫn Trí (?-?) người thôn Khuê Chương huyện Kim Thành (nay thuộc huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Đoán sự.
20. Nguyễn Tuấn (?-?) người xã Đại Lan huyện Đông Yên (nay thuộc xã Kim Lan huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Hữu Thị lang.
21. Đỗ Vinh (?-?) người xã Hồng Lục huyện Trường Tân (nay thuộc xã Tân Hưng huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Công khoa Cấp sự trung.
22. Phan Phúc Cẩn (1458-?) người xã Yên Việt Hạ huyện La Giang (nay thuộc huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Tham chính.
23. Nguyễn Duy Tiếu (?-?) người xã Đông Lại huyện Vĩnh Lại (nay thuộc xã Cao Minh huyện Vĩnh Bảo Tp. Hải Phòng). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
24. Nguyễn Ấu Miễn (?-?) người xã Lãm Dương huyện Quế Dương (nay thuộc xã Vân Dương huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng thư.
25. Nguyễn Quan Hiền (1447-?) người xã Vĩnh Kỳ huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Tân Hội huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Hình và được cử đi sứ (năm 1498) sang nhà Minh (Trung Quốc).
26. Hoàng Thiệu (1443-?) nguyên quán xã Tây Mỗ huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Tây Mỗ huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội), trú quán xã Yên Lũng cùng huyện (nay thuộc xã An Khánh huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hình.
27. Đỗ Tương (?-?) người xã Phấn Tỉnh huyện Ngọc Sơn (nay thuộc huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
28. Nguyễn Minh Khang (1443-?) người xã Phúc Hải huyện Ngự Thiên (nay thuộc xã Liên Hiệp huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Hữu Thị lang.
29. Nguyễn Trinh (1447-?) người xã Sơn Đông huyện Lập Thạch (nay thuộc xã Sơn Đông huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc). Ông là người có sức khoẻ, trước khi đi thi từng giữ chức Đô lực sĩ, sau làm quan Thượng thư.
30. Vũ Triệu Dung (1442-?) người xã Tô Xuyên huyện Phụ Phụng (nay thuộc xã An Mỹ huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình). Ông làm quan đến Thị lang.
31. Nguyễn Cung (? ?) người xã Cập Nhất huyện Bình Hà (nay thuộc xã Tiền Tiến huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư.
32. Nguyễn Đạc (1458-?) người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Kim Chân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hàn lâm viện Hiệu thảo. Bia Văn miếu Bắc Ninh ghi là Nguyễn Dịch.
33. Nguyễn Tĩnh (?-?) người xã Phù Lỗ huyện Kim Hoa (nay thuộc xã Phù Lỗ huyện Sóc Sơn Tp. Hà Nội). Ông làm quan Đô Cấp sự trung. Có người đọc là Nguyễn Tịnh.
34. Phan Quý (?-?) người xã Phan Xá huyện Siêu Loại (nay thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Tham chính và được cử đi sứ (năm 1477) sang nhà Minh (Trung Quốc).
35. Thái Thuận (1441-?) người xã Liễu Lâm huyện Siêu Loại (nay thuộc Song Liễu huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông hiệu là Lục Khê, còn có biệt hiệu là Lã Đường và tự là Nghĩa Hoà . Thái Thuận vốn là lính dạy voi của triều đình, nhưng lại là người hiếu học và đi thi đỗ. Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm Hiệu lý, Tham chính Hải Dương và tham gia Hội Tao Đàn, được vua phong Tao Đàn Phó Nguyên soái. Có sách ghi ông tên là Sái Thuận.
36. Nguyễn Sùng Nghê (1428-?) nguyên quán huyện Vĩnh Xương (nay thuộc quận Hoàn Kiếm Tp. Hà Nội), trú quán xã Hiển Khánh huyện Thiên Bản (nay thuộc xã Hiển Khánh huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
37. Trần Mô (1440-?) người xã Di Ái huyện Đan Phượng (nay thuộc xã Di Trạch huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông từng làm quan Hiến sát sứ.
38. Đoàn Mậu (?-?) người xã Kim Côi huyện An Lão (nay thuộc xã Chiến Thắng huyện An Lão Tp. Hải Phòng). Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Hộ, Tri Chiêu văn quán, Tú lâm cục, tước Cẩm Lễ nam.
39. Nguyễn Ly Châu (?-?) người xã Khê Ngoại huyện Yên Lãng (nay thuộc xã Văn Khê huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
40. Nguyễn Lễ Kính (1443-?) người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Ninh Sơn huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang). Ông làm quan Quốc tử giám Tư nghiệp.
41. Tạ Đức Hải (?-?) người huyện Vũ Ninh (nay thuộc huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
42. Tạ Thông (?-?) người thôn Yên Hưng huyện Sùng Yên (Sùng Yên là tên huyện đời Hồng Đức thuộc trấn Tuyên Quang, sau đổi là huyện Phúc Yên. Theo Đất nước Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh, huyện Phúc Yên trấn Tuyên Quang bao gồm cả hai huyện Hàm Yên và Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang, nay chưa rõ thôn Yên Hưng thuộc về huyện nào). Ông có tiếng thần đồng, hiện chưa rõ sự nghiệp.
43. Nguyễn Dương Hiến (?-?) người xã Phù Lỗ huyện Kim Hoa (nay thuộc xã Phù Lỗ huyện Sóc Sơn Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thiên đô Ngự sử.
44. Đỗ Chính Lạc (?-?) người huyện Đường An (nay thuộc huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Hữu Thị lang Bộ Công.
45. Ngô Luân (?-?) người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Sau ông lại thi đỗ khoa Đông các. Ông làm quan Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ và là thành viên Hội Tao Đàn cùng với Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận được giao việc bình tập Quỳnh uyển cửu ca.
46. Nguyễn Tư Phụ (?-?) người xã Xác Khê (có sách ghi tên xã là Hùng Khê) huyện Chí Linh (nay thuộc xã Cộng Hoà huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
47. Nguyễn Tư Phúc (?-?) người xã Sơn Đông huyện Lập Thạch (nay thuộc xã Sơn Đông huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan đến chức Tham chính. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Phúc Tư.
Tử Hà
04-15-09, 07:23:09 PM
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA MẬU TUẤT NIÊN HIỆU HỒNG ĐỨC NĂM THỨ 9 (1478)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_813.jpg
Năm thứ 9 sau khi đổi niên hiệu Hồng Đức, quan Bộ Lễ theo điển chế cũ, thi Hội các Cử nhân trong nước, chọn hạng trúng cách tất cả 62 người.
Ngày 14 tháng 5, Hoàng thượng ngự hiên điện ra bài thi, xem xét bài đối đáp để đánh giá tài năng. Hoàng thượng dụ bảo danh hiệu cao nhất sĩ tử không đạt tới. Cho nên khoa này về hàng Tiến sĩ cập đệ không có đệ nhất danh, chỉ ban cho Lê Quảng Chí đỗ Đệ nhị danh, bọn Trần Bích Hoành, Lê Ninh đỗ Đệ tam danh; còn lại ban cho bọn Nguyễn Địch Tâm 9 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Nguyễn Hiến 50 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân. Theo lệ tất cả đều được đề danh vào bia đá dựng ở nhà Thái học, nhưng Bộ Công chần chừ nên chưa dựng được. Bảy năm sau, đến năm Giáp Thìn, Hoàng thượng xuống chiếu bảo phải truy dựng, sai thần là Đôn Phục soạn bài ký.
Kính nghĩ: Khí vận quốc gia quan hệ bởi nhân tài, nhân tài cao thấp cốt do nơi khoa mục. Thái Tổ Cao hoàng đế ngay từ khi sáng lập ra triều ta đã dùng kinh nghĩa luận sách để thi học trò, khoa mục khởi thủy từ đấy. Thái Tông Văn hoàng đế nối chí kế nghiệp, mở mang kỷ cương, trong niên hiệu Đại Bảo mở khoa thi, nhân tài nối nhau xuất hiện, từ đó khoa mục đại chấn hưng. Nhân Tông hoàng đế nối theo phép cũ, không dám sơ suất.
Hoàng thượng dấy nghiệp Trung hưng, khôi phục hết thảy những việc từng bị bỏ bễ, cứ ba năm mở một khoa thi, cách nhau rất đều, thứ tự ban ơn, chu tất hoàn hảo. Từ năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo tới nay, cả thảy 10 khoa, lựa được nhân tài cho quốc gia sử dụng đến vô cùng, tốt đẹp thịnh vượng lắm thay! Lại cho khắc tên vào đá để ghi việc tốt, truyền lại sự vinh hiển cho đời sau xem biết. Há dung cho hạng người không xứng đáng trà trộn trong đó, ắt phải cứu xét kỹ lưỡng. Bởi vì ý chính của triều đình cho dựng bia khắc tên là cốt mong cho những người tôi trung con hiếu ngày thường thì can ngay nói thẳng, tôn vua giúp dân, khi gặp việc thì vì nước quên nhà, gặp gian nguy thì dám quên mình, khiến người ta chỉ vào tên mà nói: người này trung, người kia thẳng, người này dám tiến cử người tốt, bài xích kẻ gian tà, giúp ích cho nước; người nọ trọn đạo làm tôi, không thẹn danh khoa mục, được như thế thì năm tháng càng lâu mà bia càng không mòn. Còn như mượn khoa mục để cầu sự ấm no, mượn khoa danh để làm lối tắt cho đường sĩ hoạn, chỉ lo cho riêng mình, không nghĩ tới việc nước, thì người ta sẽ chỉ tên mà nói: kẻ này gian, kẻ kia nịnh, kẻ này đặt lợi nhà lên trên ích nước, ích mình hại dân, kẻ kia hãm hại người tốt, bè đảng gian tà, ô danh khoa mục, như thế thì càng lâu lại càng thêm rõ tì vết. Nay ý nghĩ sâu xa của việc dựng bia, há phải chỉ cốt lưu lại sự vẻ vang lâu dài mà thôi đâu!
Thần vâng mệnh viết bài ký, nhân đó thuật thêm vài lời để ngụ ý khuyên răn.
Thần kính cẩn làm bài ký.
Hiển cung đại phu Hàn lâm viện Thị thư kiêm Tú lâm cục Tư huấn Nguyễn Đôn Phục1 vâng sắc soạn.
Cẩn sự lang Trung thư giám Chính tự Thái Thúc Liêm vâng sắc viết chữ (chân).
Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Tô Ngại vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484).
Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:
LÊ QUẢNG CHÍ 黎廣志2 người huyện Kỳ Hoa phủ Hà Bình.
TRẦN BÍCH HOÀNH 陳璧宏3 người huyện Thiên Bản phủ Kiến Hưng.
LÊ NINH 黎寧4 người huyện Yên Lạc phủ Tam Đới.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 9 người:
NGUYỄN ĐỊCH TÂM 阮迪心5 người huyện Yên Sơn phủ Quốc Oai.
VŨ QUỲNH 武瓊6 người huyện Đường An phủ Thượng Hồng.
VŨ DUY THIỆN 武惟善7 người huyện Thiên Bản phủ Kiến Hưng.
NGHIÊM LÂM 嚴林8 người huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín.
NGUYỄN SĨ NGUYÊN 阮士原9người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
HOÀNG ĐỨC LƯƠNG 黃德良10 người huyện Gia Lâm phủ Thuận An.
NGÔ SỞ NGỌC 吳楚玉11 người huyện Thiện Tài phủ Thuận An.
NINH HÃNG 寧沆12 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
NGUYỄN GIẢN 阮僩13 người huyện Gia Định phủ Thuận An.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 50 người:
NGUYỄN HIẾN 阮憲14 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
ĐÀO CẢNH HUỐNG 陶景況15 người huyện Kim Động phủ Khoái Châu.
NGUYỄN DƯƠNG KỲ 阮陽祺16 người huyện Trường Tân phủ Hạ Hồng.
QUÁCH TOẢN 郭瓚17 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
NGUYỄN KHÁNH DUNG 阮慶融18 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.
DOÃN HOÀNH TUẤN 允宏濬19 người huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín.
VŨ TÍN BIỂU 武信表20 người huyện Thiên Thi phủ Khoái Châu.
TRẦN QUÝ NGHỊ 陳貴毅21 người huyện Yên Lãng phủ Tam Đới.
NGUYỄN KỲ 阮麒22 người huyện Tế Giang phủ Thuận An.
NGHIÊM PHỤ 嚴輔23 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
NGUYỄN THIỆU TRI 阮紹知24 người huyện Lập Thạch phủ Tam Đới.
NGUYỄN NGHIỄM 阮儼25 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
DƯƠNG BÍNH 陽昺26 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
NGUYỄN HIẾU TRUNG 阮孝忠27 người huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn.
BÙI XƯƠNG TRẠCH 裴昌澤28 người huyện Thanh Đàm phủ Thường Tín.
NGUYỄN TRÍ KHOAN 阮知寬29 người huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.
NGUYỄN CỐI 阮薈30 người huyện Vĩnh Lại phủ Hạ Hồng.
NGUYỄN TÂM HOẰNG 阮心弘31 người huyện La Giang phủ Đức Quang.
LƯƠNG VINH 梁榮32 người huyện Gia Lâm phủ Thuận An.
PHÍ MẪN 費敏33 người huyện Gia Lâm phủ Thuận An.
LƯU HY 劉熙34 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.
VƯƠNG KHẮC MẠI 王克邁35 người huyện Ninh Sơn phủ Quốc Oai.
NGÔ KIM HÚC 吳金旭36 người huyện An Dương phủ Kinh Môn.
NGUYỄN CẨN 阮謹37 người huyện Trường Tân phủ Hạ Hồng.
PHẠM MIỄN LÂN 范勉麟38 người huyện Thiên Tài phủ Thuận An.
ĐÀO TIẾN KHANG 陶進康39 người huyện Gia Lâm phủ Thuận An.
ĐỖ HỰU 杜佑40 người huyện Yên phủ Kiến Hưng.
TRẦN SẢNH 陳靚 41 người huyện Thạch Hà phủ Hà Hoa.
NGUYỄN ĐƯỜNG 阮鐺42 người huyện Trường Tân phủ Hạ Hồng.
NGUYỄN NGHĨA KỲ 阮義琦43 người huyện Bình Hà phủ Nam Sách.
NGUYỄN ĐỈNH BẬT 阮鼎弼44 người huyện Kim Hoa phủ Bắc Giang.
NGUYỄN GIẢN LIÊM 阮簡廉45 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
NGUYỄN THỌ KÌNH 阮壽鯨46 ngườihuyện Thụy Anh phủ Thái Bình.
NGUYỄN QUÝNH 阮炯47 người người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.
NGUYỄN TẮC DĨNH 阮則穎48 người huyện Hoằng Hóa phủ Hà Trung.
TẠ HÙNG KIỆT 謝熊傑49người huyện Đan Phượng phủ Quốc Oai.
TRẦN DOÃN HỰU 陳允佑50 người huyện Lập Thạch phủ Tam Đới.
LÊ HANH HUYỄN 黎亨鉉51 người huyện Gia Lâm phủ Thuận An.
NGÔ TRINH CHẤP 52 người huyện Yên Phong phủ Từ Sơn.
DƯƠNG TĨNH 楊靖53 người huyện Yên Lạc phủ Tam Đới.
NGUYỄN ĐỨC ĐỊNH 阮德定54 người huyện Lập Thạch phủ Tam Đới.
TRẦN ĐỨC TRINH 55người huyện Sơn Vi phủ Thao Giang.
NGUYỄN KÍNH HÀI 阮敬諧56 người huyện Hương Sơn phủ Đức Quang.
ĐÀO LÂM 陶霖57 người huyện Thiện Tài phủ Thuận An.
HOÀNG HIỀN 黃賢58 người huyện Thiên Lộc phủ Đức Quang.
ĐỖ CẬN 杜覲59 người huyện Phổ Yên phủ Phú Bình.
ĐẶNG CUNG 鄧珙60 người huyện Quế Dương phủ Từ Sơn.
LÊ GIÁM 黎鑑61 người huyện Hưng Nguyên phủ Anh Đô.
VŨ KIỆT 武杰62 người huyện Tây Chân phủ Thiên Trường.
HOÀNG CÔNG ĐẢNG 黃公党63người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
Đề điệu:
Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thái phó Kỳ Quận công Thượng trụ quốc Lê Niệm.
Phụng trực đại phu Thượng thư Bộ Lại Tư chính Thượng khanh Hoàng Nhân Thiệm.
Độc quyển:
Thông chương đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Đại học sĩ Tư chính khanh Thân Nhân Trung.
Tả Thị lang Bộ Lễ kiêm Quốc tử giám Tế tửu Nguyễn Như Đổ.
Triều liệt đại phu Đông các Học sĩ Tu thiện doãn Quách Đình Bảo.
Triều liệt đại phu Quốc tử giám Tư nghiệp kiêm Sử quán Tu soạn Tu thiện doãn Ngô Sĩ Liên.
Giám thí:
Tả Thị lang Bộ Hình Triều liệt đại phu Tu thiện doãn Nguyễn Tường.
Hữu Thị lang Bộ Công Đạt tín đại phu Tu thiện thiếu doãn Ngô Đức Thanh.
Chú thích:
1. Nguyễn Đôn Phục (?-?) người xã Tri Lễ huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Tân Ước huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang kiêm Đông các Đại học sĩ và được cử đi sứ (năm 1474) sang nhà Minh (Trung Quốc).
2. Lê Quảng Chí (1454-?) hiệu Hoành Sơn, người xã Thần Đầu huyện Kỳ Hoa (nay thuộc huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh). Ông giữ các chức quan, như Đông các Đại học sĩ, Tả Thị lang Bộ Lễ đứng đầu Hàn lâm viện. Vua Lê Thánh Tông rất trọng đãi ông, sau khi mất, ông được thăng Thượng thư.
3. Trần Bích Hoành (1452-?) người xã Vân Cát huyện Thiên Bản (nay thuộc xã Kim Thái huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định). Ông làm quan Đông các.
4. Lê Ninh (1448-?) người xã Thụ Ích huyện Yên Lạc (nay thuộc xã Liên Châu huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Hộ bộ Tả Thị lang, kiêm Vương phó và từng được cử đi sứ. Khi mất, ông được tặng chức Thượng thư.
5. Nguyễn Địch Tâm (1461-?) người xã Hoàng Xá huyện Ninh Sơn (nay thuộc huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư, tước An Quận công, hàm Thiếu bảo.
6. Vũ Quỳnh (1453-1497) hiệu là Đốc Trai và TrạchỔtự làThủ Phácvà Yến Ôn , người xã Mộ Trạch huyện Đường An (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Công, Thượng thư Bộ Lễ, Thượng thư Bộ Binh, Nhập thị Kinh diên kiêm Quốc tử giám Tư nghiệp, Sử quán Tổng tài và là người có tài văn thơ.
7. Vũ Duy Thiện (?-?) người xã An Cự huyện Thiên Bản (nay thuộc xã Đại An huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định). Ông làm quan Hiến sát sứ, Nhập thị Kinh diên, tước tử và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
8. Nghiêm Lâm (?-?) người xã La Phù huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã La Phù huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tự khanh.
9. Nguyễn Sĩ Nguyên (1451-?) người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Hương Mạc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng bảo Tự khanh, Lục cấp Sự trung sự.
10. Hoàng Đức Lương (?-?) nguyên quán xã Cửu Cao huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Cửu Cao huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), trú quán xã Ngọ Cầu (nay thuộc thị trấn Như Quỳnh huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan thăng đến chức Tả Thị lang Bộ Hộ và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
11. Ngô Sở Ngọc (?-?) người xã Văn Xá huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Phú Hoà huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
12. Ninh Hãng (?-?) nguyên quán xã Lan Đình huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Đồng Lạc huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hiến sát sứ.
13. Nguyễn Giản (?-?) người xã Đông Côi huyện Gia Định (nay thuộc xã An Bình huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Công.
14. Nguyễn Hiến (?-?) người xã Đông Xuất huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đông Thọ huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thị lang.
15. Đào Cảnh Huống (1434-?) người xã Phán Thủy huyện Kim Động (nay thuộc xã Song Mai huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lễ.
16. Nguyễn Dương Kỳ (?-?) người xã Cao Duệ huyện Trường Tân (nay thuộc xã Nhật Tân huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thị lang.
17. Quách Toản (1452-?) người xã Phù Đàm huyện Đông Ngàn (nay thuộc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hàn lâm và hai lần được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
18. Nguyễn Khánh Dung (?-?) người xã Tả Thanh Oai huyện Thanh Oai (nay là xã Tả Thanh Oai huyện Thanh Trì Tp. Hà Nội). Ông làm quan Quốc tử giám Tế tửu.
19. Doãn Hoành Tuấn (?-?) người xã An Duyên huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Tô Hiệu huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư và từng được cử đi sứ (năm 1480) sang nhà Minh (Trung Quốc).
20. Vũ Tín Biểu (1449-?) người xã Bình Lăng huyện Thiên Thi (nay thuộc xã Tiền Phong huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
21. Trần Quý Nghị (?-?) người xã Thanh Lãng huyện Yên Lãng (nay thuộc xã Thanh Lãng thị trấn Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Thượng thư. Có sách chép là Trần Quí Đôn.
22. Nguyễn Kỳ (1443-?) người xã Như Lân huyện Tế Giang (nay thuộc xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Công và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
23. Nghiêm Phụ (?-?) người xã Lan Độ huyện Đông Ngàn (nay thuộc huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thừa chính sứ.
24. Nguyễn Thiệu Tri (1442-1533) người xã Xuân Lôi huyện Lập Thạch (nay là xã Xuân Lôi huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hộ. Sau khi mất, ông được phong phúc thần.
25. Nguyễn Nghiễm (1419-?) nguyên quán xã An Từ huyện Đông Ngàn, trú quán xã Bình Sơn cùng huyện (nay thuộc xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Tham chính.
26. Dương Bính (?-?) người xã Hà Lỗ huyện Đông Ngàn (nay là xã Liên Hà huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thừa chính sứ.
27. Nguyễn Hiếu Trung (?-?) người xã Kênh Dao huyện Giáp Sơn (nay thuộc xã An Hưng huyện An Hải Tp. Hải Phòng. Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
28. Bùi Xương Trạch (1438-1516) nguyên quán xã Định Công huyện Thanh Đàm (nay thuộc phường Định Công quận Hoàng Mai Tp. Hà Nội), trú quán xã Thịnh Liệt huyện Thanh Đàm (nay thuộc xã Thịnh Liệt huyện Thanh Trì Tp. Hà Nội). Ông Làm quan Thượng thư, Chưởng Lục bộ sự kiêm Đô Ngự sử, Quốc tử giám Tế tửu, Tri Kinh diên sự, Thái phó, tước Quảng Quốc công và từng đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
29. Nguyễn Trí Khoan (?-?) người xã Phan Xá huyện Tứ Kỳ (nay thuộc xã Hoàng Diệu huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thị lang.
30. Nguyễn Cối (?-?) người xã Hội Am huyện Vĩnh Lại (nay thuộc xã Cao Minh huyện Vĩnh Bảo Tp. Hải Phòng. Ông làm quan đến Tự khanh.
31. Nguyễn Tâm Hoằng (1434-?) người xã Lai Thạch huyện La Giang (nay thuộc xã Song Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lễ.
32. Lương Vinh (?-?) người xã Cổ Bi huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Cổ Bi huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Binh khoa Cấp sự trung.
33. Phí Mẫn (?-?) người xã Cửu Cao huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Cửu Cao huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông từng làm quan Thừa chính sứ.
34. Lưu Hy (?-?) người xã Thượng Thanh Oai huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Văn Khê thị xã Hà Đông tỉnh Hà Tây). Ông làm quan đến Hiến sát sứ.
35. Vương Khắc Mại (1448-?) người xã Yên Nội huyện Ninh Sơn (nay thuộc xã Đồng Quang huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang và từng được cử đi sứ.
36. Ngô Kim Húc (?-?) người xã Hàng Kênh huyện An Dương (nay là phường Hàng Kênh quận Lê Chân Tp. Hải Phòng). Ông làm quan đến Lại khoa Đô Cấp sự trung.
37. Nguyễn Cẩn (?-?) người xã Đoàn Xá huyện Trường Tân (nay thuộc xã Quang Phục huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Đô Cấp sự trung.
38. Phạm Miễn Lân (?-?) người xã Hoa Cầu huyện Thiện Tài (nay thuộc xã An Thịnh huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Đình uý sứ.
39. Đào Tiến Khang (?-?) người xã Xuân Đổ huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Cự Khối huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thừa chính sứ.
40. Đỗ Hựu (1441-?) người xã Đại Nhiễm huyện Ý Yên (nay thuộc huyện Ý Yên tỉnh Nam Định). Ông từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
41. Trần Sảnh (1431-?) người xã Ngọc Luỹ huyện Thanh Hà (nay thuộc xã Thạch Thường huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
42. Nguyễn Đường (?-?) người xã Hồng Lục huyện Trường Tân (nay thuộc xã Tân Hưng huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
43. Nguyễn Nghĩa Kỳ (?-?) người xã Tiên Táo huyện Bình Hà (nay thuộc xã Thanh An huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
44. Nguyễn Đỉnh Bật (1438-?) người xã Cán Khê huyện Kim Hoa (nay thuộc xã Nguyên Khê huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Tham Chính. Có tài liệu ghi là Quách Đỉnh Bật.
45. Nguyễn Giản Liêm (1453-?) người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Hương Mạc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Đô Cấp sự trung.
46. Nguyễn Thọ Kình (?-?) người xã Kha Lý huyện Thụy Anh (nay thuộc xã Thụy Quỳnh huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình). Ông làm quan đến Tự khanh.
47. Nguyễn Quýnh (?-?) người xã Bối Khê huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Tam Hưng huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Đề hình Giám sát Ngự sử.
48. Nguyễn Tắc Dĩnh (1447-?) người xã Lam Kiều huyện Hoằng Hóa (nay thuộc xã Quảng Văn huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Hộ.
49. Tạ Hùng Kiệt (1444-1514) người xã Hương Bảng huyện Đan Phượng (nay thuộc xã Song Phương huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang. Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư. Có sách ghi ông là Tạ Năng Kiệt.
50. Trần Doãn Hựu (?-?) người xã Sơn Đông huyện Lập Thạch (nay là xã Sơn Đông huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Thượng thư.
51. Lê Hanh Huyễn (1458-?) người xã Nghĩa Trai huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Tân Quang huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Đô Cấp sự trung.
52. Ngô Trinh Chấp (?-?) người xã Xuân Lôi huyện Yên Phong (nay thuộc xã Tam Giang huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
53. Dương Tĩnh (1455-?) người xã Vĩnh Mỗ huyện Yên Lạc (nay thuộc xã Minh Tân huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Công.
54. Nguyễn Đức Định (1444-?) người xã Vân Chương huyện Lập Thạch (nay thuộc xã Tử Du huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Ngoại lang.
55. Trần Đức Trinh (1454-?) người xã Thạch Lỗi huyện Sơn Vi (nay thuộc huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ). Ông làm quan Thị lang. Có sách ghi là Nguyễn Đức Trinh.
56. Nguyễn Kính Hài (1448-?) người xã Tân Ốc huyện Hương Sơn (nay thuộc huyện Yên Sơn tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Hiến sát sứ.
57. Đào Lâm (1461-?) người xã Đăng Triều huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Trừng Xá huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Sau ông lại thi đỗ khoa Đông các và làm quan Hàn lâm.
58. Hoàng Hiền (?-?) người xã Kiệt Thạch huyện Thiên Lộc (nay thuộc xã Thanh Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Lễ khoa Cấp sự trung Hiến sát sứ.
59. Đỗ Cận (1434-?) hiệu là Phổ Sơnvà tự là Hữu Khác , người xã Thống Thượng huyện Phổ Yên (nay thuộc huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên). Ông làm quan Thượng thư và được cử đi sứ (năm 1483) sang nhà Minh (Trung Quốc). Ông vốn tên Đỗ Viễn, vua Lê Thánh Tông đổi tên là Đỗ Cận nhưng có sách vẫn ghi ông là Đỗ Viễn.
60. Đặng Cung (1460-?) người xã Vân Đoàn huyện Quế Dương (nay thuộc xã Châu Phong huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông làm đến Hàn lâm viện Hiệu thảo.
61. Lê Giám (1452-?) người xã Phù Long huyện Hưng Nguyên (nay thuộc huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Lại, Nhập thị Kinh diên.
62. Vũ Kiệt (?-?) người xã Sa Lung huyện Tây Châu (nay thuộc xã Đồng Sơn huyện Nam Trực tỉnh Nam Định). Ông làm quan đến Cấp sự trung.
63. Hoàng Công Đảng (?-?) nguyên quán thôn Man Nhuế huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Nam Trung huyện Nam Sách), trú quán xã Đồng Khê (nay thuộc xã An Lâm cùng huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư, tước Phú Thọ nam, được về trí sĩ.
Tử Hà
04-18-09, 09:49:29 PM
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA TÂN SỬU NIÊN HIỆU HỒNG ĐỨC NĂM THỨ 12 (1481)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_812.jpg
Năm Tân Sửu niên hiệu Hồng Đức (1481) là năm thứ 54 Hoàng triều mở vận và năm thứ 22 Hoàng thượng trung hưng1, mở khoa thi Hội đến năm nay cũng đã 11 năm. Khoa này các Cử nhân2 đến đua tài ở Bộ Lễ đông đến hơn 2.000, chỉ tuyển chọn được 31 người, lựa chọn như thế thật là kỹ càng.
Ngày thi Đình, quan Hữu ti và các viên chấp sự mỗi người một việc. Vua ngự ở chính điện, đích thân ra đề văn sách. Sáng hôm sau, Hoàng thượng xem quyển chọn bài, lấy Phạm Đôn Lễ đỗ đầu, Lưu Hưng Hiếu thứ hai, Nguyễn Doãn Địch thứ ba, đều ban cho hạng Tiến sĩ cập đệ; những người còn lại ban cho các hạng Tiến sĩ xuất thân và đồng Tiến sĩ xuất thân có thứ bậc khác nhau. Thứ lớp ban ơn y theo điển cũ. Những người được chọn vào viện Hàn lâm thì đặc cách cho thêm một cấp. Hoàng thượng đích thân sắc dụ sai quan Bộ Công dựng đá đề tên ở Quốc tử giám, sai bề tôi là Trọng Ý soạn bài ký.
Thần cúi đầu rập đầu dâng lời rằng:
“Người người đều anh tài”3 đó là do cái tâm dạy người không biết mệt của Văn Vương. “Sao không trồng người ? ”4 đó là lời giáo huấn rất dễ hiểu. Hoàng thượng cổ vũ nhân tài, chấn hưng văn trị. Thơ Vực phốc tỏ đạo nhân từ, thơ Tinh nga ngụ lời giáo hóa, mặc dầu xưa nay khác nhau mà công dụng vẫn là một. Kẻ sĩ sinh ở đời này gặp gỡ đấng thánh minh, trang điểm tiếng tăm văn chương, tắm gội thấm nhuần giáo hóa; thừa buổi gặp hội gió mây, ngước trông vừng nhật nguyệt; lên đường vinh quí, bước chân vào hạng anh hùng; tên khắc bia đá, để lại lâu dài, há chẳng phải là vinh hạnh ư? Nhưng, danh là bề ngoài của thực, tốt là đối tượng của xấu. Có danh có thực, há chẳng phải tốt sao? Có danh không thực, há chẳng phải xấu sao? Những người được đề danh vào bia đá này, cố nhiên phải lấy đạo nghĩa đức hạnh để tu dưỡng bản thân, phải dùng văn học mà trau dồi tâm tính; làm vị Trạng nguyên chân chính, làm vị Tiến sĩ chân chính, trên không phụ ơn tri ngộ của triều đình, dưới không phụ với sở học thường ngày, đừng như Công Tôn học thức a dua, phép canh tân gạt người, hoặc như Trại Lang đặt ra chỉ làm lụy cho khoa mục mà thôi. Vả chăng bia đá này dựng ở nhà Thái học là cốt để cho những người làm quan và những người làm việc từ chương chữ nghĩa mắt nhìn chăm chú, miệng đọc thuộc lòng, bồi hồi xem đọc, ngưỡng mộ sự tốt đẹp lớn lao, để cho nhân tâm có cơ được khích lệ, khiến cho ý nghĩa của bài văn này càng thêm lớn lao sáng tỏ. Điều đó đối với căn nguyên của đạo trị, đối với phong tục giáo hóa có quan hệ rất lớn vậy. Thần há dám viện cớ quê mùa nông cạn mà chối từ.
Thần kính cẩn làm bài ký.
Hiển cung đại phu Hàn lâm viện Thị thư kiêm Tú lâm cục Tư huấn Nguyễn Xung Xác vâng sắc soạn.
Mậu lâm tá lang Trung thư giám Điển thư Phan Trung vâng sắc viết chữ (chân).
Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Tô Ngại vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484).
Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:
PHẠM ĐÔN LỄ 范敦禮5 người huyện Ngự Thiênphủ Tân Hưng.
LƯU HƯNG HIẾU 劉興孝6 người huyện Vĩnh Ninhphủ Thiệu Thiên.
NGUYỄN DOÃN ĐỊCH 阮允迪7 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 8 người:
NGÔ VĂN CẢNH吳文景8 người huyện Yên Dũng phủ Lạng Giang.
VŨ KHẮC MINH 武克明9 người huyện Cẩm Giàng phủ Thượng Hồng.
LƯU NGẠN QUANG 劉彥光10 người huyện Đông Sơn phủ Thiệu Thiên.
NGUYỄN DUY TRINH 阮惟禎11 người huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai.
PHẠM HÙNG 范雄12 người huyện Thiên Bản phủ Kiến Hưng.
HOÀNG BÁ DƯƠNG 黃伯陽13 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.
BÙI SƯ LỤC 裴師錄14 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
LÊ ĐỨC THIỆU 黎德邵15 người huyện Đường Hào phủ Thượng Hồng.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 29 người:
NGUYỄN MINH THÔNG 阮明通16 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
ĐÀM ĐÌNH PHƯƠNG 譚廷芳17 người huyện Đan Phượng phủ Quốc Oai.
PHẠM CHUYẾT 范拙18 người huyện Cẩm Giàng phủ Thượng Hồng.
VŨ NGUYÊN TRINH 武原禎19 người huyện Đường An phủ Thượng Hồng.
LÊ CẤU 黎覯20 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
NGUYỄN TÔN MIỆT 阮孫蔑21 người huyện Kim Hoa.
NGUYỄN NHÂN BỊ 阮仁被22 người huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn.
NGUYỄN VĂN TÚ 阮文秀23 người huyện Bạch Hạc phủ Tam Đới.
VŨ NGHI HUYNH 武宜兄24 người huyện Cẩm Giàng phủ Thượng Hồng.
NGUYỄN ĐỔ 阮堵25 người huyện Đan Phượng phủ Quốc Oai.
NGUYỄN THÁI 阮泰26 người huyện Thọ Xương.
KHỔNG CƯ LỖ 孔居魯27 người huyện Lập Thạch phủ Tam Đới.
THÂN TÔNG VŨ 申宗武28 người huyện Yên Dũng phủ Lạng Giang.
LÊ CÔNG TRUYỀN 黎公傳29 người huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn.
PHẠM TỬ HIỀN 范子賢30 người huyện Thụy Anh phủ Thái Bình.
NGUYỄN TẤT THÔNG 阮必聰31 người huyện Vũ Giang32
NGUYỄN TỬ LOA 阮子騾33 người huyện Chí Linh phủ Nam Sách.
NGUYỄN ĐÌNH TUẤN 阮廷俊34 người huyện Lương Tài phủ Thuận An.
NGUYỄN NHÂN LỄ 阮仁禮35 người huyện Hoằng Hóa phủ Hà Trung.
PHAN ỨNG TOẢN 范應瓚36 người huyện Thạch Hà phủ Hà Hoa.
LƯU DI QUYẾT 劉貽厥37 người huyện Tế Giang phủ Thuận An.
LÊ TỨ 黎賜38 người huyện Tế Giang phủ Thuận An.
ĐỖ BÁ LINH 杜伯齡39 người huyện Cẩm Giàng phủ Thượng Hồng.
NGÔ KHẮC TUẤN 吳克俊40 người huyện Trường Tân phủ Hạ Hồng.
THANG NGHĨA PHƯƠNG 湯義芳41 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
LÊ ĐỨC TRUNG 黎德忠42 người huyện Yên Dũng phủ Lạng Giang.
NGUYỄN OANH 阮轟43 người huyện Gia Lâm phủ Thuận An.
PHAN DƯ KHÁNH 潘餘慶44 người huyện La Giang phủ Đức Quang.
LÊ DUY HÀN 黎惟翰45 người huyện Hoằng Hóa phủ Hà Trung.
Chú thích:
1. 54 năm là tính từ khi Lê Thái Tổ lên ngôi (năm 1428), 22 năm là tính từ năm Lê Thánh Tông lên ngôi (năm 1460). Văn bia các khoa Tiến sĩ đời Lê sơ nói thời Trung hưng là nói về sự kiện năm 1459 quan quân tại triều lật đổ Lê Nghi Dân và đón Lê Tư Thành lên ngôi (tức vua Lê Thánh Tông).
2. Cử nhân: người đỗ thi Hương, hiểu đúng nghĩa là những người được các trường thi Hương tiến cử về kinh dự thi Hội. Cách ghi này cho thấy tên gọi Cử nhân đã từng được dùng từ đời Lê sơ, sau đổi gọi là Hương cống, Hương tiến hoặc Cống cử, đến triều Nguyễn lại trở lại chính thức dùng danh hiệu Cử nhân.
3. Câu này dùng ý trong Kinh Thi: "Cổ chi nhân vô dịch, dự mao tư sĩ" nghĩa là: Cổ nhân (chỉ Chu Văn Vương) dạy người không mỏi, người người đều anh tài (Đại nhã, Tư tề).
4. Câu này cũng dùng ý Kinh Thi: "Chu nhân thọ khảo, hà bất tác nhân", nghĩa là Chu nhân (chỉ Chu Văn Vương) tuổi cao, sao không trồng người? (Đại nhã, Vực phốc).
5. Phạm Đôn Lễ (1455-?) nguyên quán làng Hải Triều huyện Ngự Thiên (nay thuộc xã Phạm Lễ huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình), trú quán xã Thanh Nhàn huyện Kim Hoa (nay thuộc huyện Sóc Sơn Tp. Hà Nội). Ông từ thi Hương đến thi Đình đều đỗ đầu và làm quan Tả Thị lang.
6. Lưu Hưng Hiếu (1456-?) người xã Lương Hà huyện Vĩnh Ninh (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ, Chưởng Hàn lâm viện sự và từng được cử đi sứ.
7. Nguyễn Doãn Địch (?-?) nguyên quán xã Cảo Dương (nay thuộc xã Hồng Dương huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây), trú quán xã Canh Hoạch cùng huyện (nay thuộc xã Dân Hoà cùng huyện). Ông làm quan Hữu Thị lang.
8. Ngô Văn Cảnh (1443-?) nguyên quán xã Yên Ninh huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Hoàng Ninh huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang), trú quán xã Liên Hồ cùng huyện (nay thuộc xã Quảng Minh huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang). Ông làm quan Hiến sát sứ.
9. Vũ Khắc Minh (?-?) người xã Bình Lãng huyện Cẩm Giàng (nay thuộc xã Ngọc Liên huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hiến sát sứ.
10. Lưu Ngạn Quang (1457-?) nguyên quán xã Viên Khê (nay thuộc xã Đông Anh huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa), trú quán xã Ngọc Bôi cùng huyện (nay thuộc huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Tả Thị lang.
11. Nguyễn Duy Trinh (1443-?) người xã Thượng Cát huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Thượng Cát huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Hình và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
12. Phạm Hùng (?-?) người xã Đường Sơn huyện Thiên Bản (nay thuộc huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Hình.
13. Hoàng Bá Dương (?-?) người xã Bối Khê huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Tam Hưng huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tri phủ và được cử đi sứ (năm 1488) sang nhà Minh (Trung Quốc).
14. Bùi Sư Lục (1444-?) người xã Lại Hạ huyện Thanh Lâm (nay là xã Lại Hạ huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thừa chánh sứ.
15. Lê Đức Thiệu (1453-?) người thôn Hòe Lâm huyện Đường Hào (nay thuộc xã Ngọc Lâm huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
16. Nguyễn Minh Thông (?-?) người xã Xuân Canh huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Xuân Canh huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thừa Chính sứ. Có tài liệu ghi là Nguyễn Minh Đạo.
17. Đàm Đình Phương (1443-?) người xã Trung Thụy huyện Đan Phượng (nay thuộc xã Đức Thượng huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Hàn lâm viện Bí thư.
18. Phạm Chuyết (1439-?) người xã Kim Lan huyện Cẩm Giàng (nay là thuộc xã Kim Giang huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hữu Thị lang.
19. Vũ Nguyên Trinh (?-?) người huyện Đường An (nay thuộc huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
20. Lê Cấu (1443-?) người xã Lạc Thực huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Đồng Lạc huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
21. Nguyễn Tôn Miệt (1441-?) người xã Xuân Hy huyện Kim Hoa (nay thuộc xã Phúc Thắng huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Hàn lâm viện Thị thư và là thành viên Hội Tao đàn. Bia Văn miếu Bắc Ninh ghi là Nguyễn Tôn Mậu.
22. Nguyễn Nhân Bị (1448-?) người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Kim Chân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng thư Bộ Binh, thành viên Hội Tao Đàn và từng được cử đi sứ.
23. Nguyễn Văn Tú (1450-?) người xã Vũ Di huyện Bạch Hạc (nay là xã Vũ Di huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Thừa chính sứ.
24. Vũ Nghi Huynh (1455-?) người làng Thạch Lỗi huyện Cẩm Giàng (nay thuộc xã Thạch Lỗi huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
25. Nguyễn Đổ (1443-?) người xã Cựu Quán huyện Đan Phượng (nay thuộc xã Đức Thượng huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Viên ngoại lang.
26. Nguyễn Thái (1436-?) người huyện Vĩnh Xương (nay thuộc quận Hoàn Kiếm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Đoán sự .
27. Khổng Cư Lỗ (?-?) người xã Thạch Lôi huyện Lập Thạch (nay thuộc xã Cao Phong huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
28. Thân Tông Vũ (1444-?) người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Hoàng Ninh huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ. Thân Tông Vũ là con Thân Nhân Trung, em Nhân Tín, chú của Cảnh Vân. Có tài liệu ghi là Thân Nhân Vũ.
29. Lê Công Truyền (?-?) người xã Khinh Dao huyện Giáp Sơn (nay thuộc xã An Hưng huyện An Hải Tp. Hải Phòng. Ông làm quan Giám sát Ngự sử. Có sách ghi ông là Nguyễn Công Truyền.
30. Phạm Tử Hiền (?-?) người xã Xá Thị huyện Thụy Anh (nay thuộc xã Thụy Hưng huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Hiến sát sứ.
31. Nguyễn Tất Thông (?-?) người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Kim Chân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thừa chính sứ.
32. Bia soạn dựng đời Hồng Đức chưa có tên huyện Vũ Giang. Tên huyện đương thời là Vũ Ninh thuộc phủ Từ Sơn, đến đầu đời Trung hưng vì kiêng huý Trang Tông Lê Duy Ninh (1533-1548 ) nên đổi huyện Vũ Ninh thành Vũ Giang. Ở đây văn bia khắc Vũ Giang, có lẽ do người đời Lê Trung hưng khi khắc lại đã thay chữ Ninh bằng chữ Giang.
33. Nguyễn Tử Loa (1433-?) người thôn Hộ Xá huyện Chí Linh (nay thuộc xã Quốc Tuấn huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan An bang Kinh lược sứ.
34. Nguyễn Đình Tuấn (1451-?) người xã Quảng Bố huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Quảng Phú huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông từng được cử đi sứ sang nhà Minh. Làm quan Thượng thư.
35. Nguyễn Nhân Lễ (1453-?) người xã Bột Thượng huyện Hoằng Hóa (nay thuộc xã Hoằng Vinh huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Hữu Thị lang.
36. Phan Ứng Toản (1446-1515) người xã Đông Bàn huyện Thạch Hà (nay thuộc xã Thạch Ngọc huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Quốc tử giám Tế tửu.
37. Lưu Di Quyết (1446-1515) người xã Như Phượng huyện Tế Giang (nay thuộc xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Hiến sát sứ.
38. Lê Tứ (1444-?) người xã Khúc Lộng huyện Tế Giang (nay thuộc xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
39. Đỗ Bá Linh (1443-?) người xã Thượng Minh huyện Cẩm Giàng (nay thuộc xã Tứ Minh Tp. Hải Dương tỉnh Hải Dương. Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
40. Ngô Khắc Tuấn (?-?), người xã An Tân huyện Trường Tân (nay thuộc xã Gia Tân huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hiến sát sứ.
41. Thang Nghĩa Phương (?-?), nguyên quán xã Cẩm Phương huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đồng Quang huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), trú quán xã Yên Ninh huyện Chí Linh (nay thuộc huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Lễ. Bia Văn miếu Bắc Ninh ghi ông là Dương Nghĩa Phương.
42. Lê Đức Trung (1443-?) người xã Cổ Dũng huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Tiến Dũng huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang). Ông nguyên họ Nguyễn, được ban quốc tính họ Lê và làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lễ.
43. Nguyễn Oanh (?-?) người xã Nghĩa Trai huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Tân Quang huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Đô Ngự sử.
44. Phan Dư Khánh (1461-?) người xã Yên Việt huyện La Giang (nay thuộc xã Đức Yên huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh). Ông Làm quan Hiến sát sứ. Có sách ghi nhầm là Phan Khánh Dư .
45. Lê Duy Hàn (1458-?) người xã Bái Cầu huyện Hoằng Hóa (nay thuộc xã Hoằng Thanh huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Hiến sát sứ.
Tử Hà
04-20-09, 10:17:26 PM
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA ĐINH MÙI NIÊN HIỆU HỒNG ĐỨC NĂM THỨ 18 (1487)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_811.jpg
Trời mở thái bình thịnh trị muôn năm cho nước nhà, tất sinh hiền tài để giúp nước. Đó là vì sự hưng thịnh của trị đạo, giáo hóa có gốc ở sự thu dùng hiền tài. Có nhiều hiền tài hay không là do ở sự giáo dưỡng. Kinh Thi có câu: "Hiền sĩ tuấn kiệt, sinh ở nước vua"1. Lại có câu: " Chu vương tuổi cao, lẽ nào không trồng người". Như vậy, mở nền trị bình lâu dài, nếu không có nhiều nhân tài thì sao mà làm được?
Kính nghĩ thánh triều:
Thái Tổ Cao hoàng đế từ lúc mới thay đổi mệnh trời, sáng lập triều đại đã lấy việc xây học hiệu, giáo dưỡng hiền tài làm việc trước tiên. Liệt thánh nối truyền trước hết lo mở khoa thi chọn kẻ sĩ, xếp đặt quan tước, qui mô thật rộng lớn.
Hoàng thượng trung hưng, mở rộng quy mô, luôn nghĩ cầu trị, sẵn lòng dùng Nho, đến nay đã 28 năm, mở khoa thi lớn cả thảy chín lần. Bèn đến tháng 3 năm Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1486), Bộ Lễ theo lệ cũ, vâng mệnh thánh minh, thi Hội các sĩ nhân trong nước, lựa chọn hạng ưu tú được 60 người.
Ngày mồng 7 tháng 4, Hoàng thượng ngự ở hiên điện, ra câu hỏi về đạo trị nước. Sau khi xem quyển thi, lại gọi các sĩ nhân hạng ưu vào cửa Nguyệt Quang, đích thân xét định thứ bậc. Lấy Trần Sùng Dĩnh đỗ đầu, Nguyễn Đức Huấn đỗ thứ hai, Thân Cảnh Vân đỗ thứ 3, đều ban cho hạng Tiến sĩ cập đệ; bọn Vũ Cảnh 30 người được ban Tiến sĩ xuất thân; bọn Phạm Trân 27 người được ban đồng Tiến sĩ xuất thân. Đó là sự tuyển chọn rất thận trọng vậy.
Ngày mồng 4 tháng 5, Hoàng thượng ngự điện Kính Thiên, loa truyền gọi tên người thi đỗ, các quan mặc triều phục chúc mừng, rước bảng vàng treo ngoài cửa Đông Hoa. Sĩ tử, dân chúng kéo nhau đến xem, đều bảo: đời thánh văn minh, nhân tài đông đảo, thật là cuộc gặp gỡ tốt đẹp của đời thịnh. Việc ban thưởng phẩm vật nghi thức y như điển cũ. Hoàng thượng cho rằng việc ban ân sủng chỉ vẻ vang nhất thời, còn họ tên phải khắc vào bia đá mới có thể truyền tới lâu dài. Bèn sai Bộ Công mài đá đề danh, lại sai thần là Nhân Trung viết bài ký ghi lại sự việc.
Thần trộm nghĩ: Nhân tài phồn thịnh vẫn quan hệ ở khí chất biến hóa của trời đất, nhưng chủ yếu vẫn do ở nền giáo hóa của bậc thánh nhân. Bởi vì khí chất trời đất biến hóa thì nguyên khí hội hợp rồi lan toả bàng bạc khắp nơi, cho nên mới có số nhiều đông đảo. Phải nhờ có giáo hóa của thánh nhân thì văn đức mới được tôi luyện hun đúc, tạo nên cảnh tốt đẹp đượm đà. Khổng Tử nói: "Khoảng đời Đường Ngu là thời thịnh”, đó là do khí chân nguyên hội hợp mà nên chăng? Kinh Thi nói: "Người xưa không biết chán, kẻ tài tuấn giỏi giang"2, đó là sự hun đúc văn đức chăng?
Nay khí hóa thuần nhất rộng tỏa, trị giáo sáng tỏ đẹp cùng trời đất, sự hưng thịnh sánh ngang đời Ngu, Chu. Nhân tài đông đảo hơn thuở trước, kén được người giỏi nhiều gấp mấy ngày xưa, đủ sáng soi cho những thành tựu của nền giáo hóa, là biểu hiện tốt đẹp của nước nhà. Kẻ sĩ được đề danh vào bia đá này, thật may mắn biết bao! Cho nên phải đem lòng trung nghĩa tự hẹn với mình, làm sao danh và thực hợp nhau, làm những việc hợp sở học để làm nên sự nghiệp to lớn quang minh, khiến thiên hạ đời sau phải nhón chân lên mà nhắc nhở thanh danh, mến mộ khí tiết. Ngõ hầu trên không phụ ơn triều đình dưỡng dục, dưới không phụ hoài bão thường ngày thì tấm đá khắc ra sẽ đời đời không mục vậy. Thảng hoặc có người ngoài có vẻ văn chương mà trong đức hạnh thiếu phần tu dưỡng, khiến cho cái mà người ta đọc được trên bia không giống như dư luận mà họ nghe biết, việc làm trái với sở học, làm hủy hoại hạnh kiểm, điếm lụy danh giáo thì là vết nhơ cho tấm đá này. Thế chẳng phải ý nguyện triều đình trông mong ở kẻ sĩ, cũng chẳng phải là cách kẻ sĩ dùng để tự đối đãi mình.
Ôi! Khi nhỏ đi học, khi lớn thực hành, đọc hết kinh sách để đem ra áp dụng hết mức, người ta đều có chí hướng ấy. Vậy thì từ nay về sau, kẻ sĩ sinh ở đời này, đọc bài văn này, nhìn tấm đá này phải nên suy nghĩ thế nào? Kính cẩn chép vào đá, ngõ hầu tỏ ý với tương lai.
Phụng trực đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Đại học sĩ Tư chính Thượng khanh Thân Nhân Trung vâng sắc soạn.
Mậu lâm tá lang Trung thư giám Điển thư Nguyễn Cận vâng sắc viết chữ (chân).
Cẩn sự lang Kim quang môn Đãi chiếu Nguyễn Nhân Huệ vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng ngày 15 tháng 8 năm niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487).
Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:
TRẦN SÙNG DĨNH 陳崇穎3 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
NGUYỄN ĐỨC HUẤN 阮德訓4 người huyện Chí Linh phủ Nam Sách.
THÂN CẢNH VÂN 申景雲5 người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 30 người:
VŨ CẢNH 武耿6 người huyện Thuỷ Đường phủ Kinh Môn.
NGUYỄN THẨM LỘC 阮審祿7 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
NGUYỄN LÝ TƯỜNG 阮履祥8 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.
ĐINH TRUNG THUẦN 丁忠純9 người xã Bằng Xá huyện Yên.
BÙI ĐOAN GIÁO 裴端教10 người huyện Bình Hà phủ Nam Sách.
NGUYỄN BẢO KHUÊ 阮寶珪11 người huyện Yên Lãng phủ Tam Đới.
NGÔ HOAN 吳驩12 người huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín.
NGUYỄN CẨN LIÊM 阮瑾廉13 người huyện Siêu Loại phủ Thuận An.
VŨ TRẬT 武秩14 người huyện Lôi Dương phủ Thiệu Hóa.
VŨ TRIỆT VŨ 武澈瑀15 người huyện Đại An phủ Kiến Hưng.
PHẠM VIỆN 范瑗16 người huyện Vũ Tiên phủ Kiến Xương.
TRỊNH QUỲ 鄭葵17 người huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín.
NGUYỄN ỨNG TRIỆU 阮應肇18 người huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.
PHẠM TUẤN 范駿19 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
VŨ LOAN 武鑾20 người huyện Đường An phủ Thượng Hồng.
NGUYỄN LỆ 阮礪21 người huyện Đông Yên phủ Khoái Châu.
NGUYỄN LÝ UYÊN 阮理淵22 người huyện Thanh Đàm phủ Thường Tín.
NGUYỄN THỪA PHỦ 阮承黼23 người huyện Ninh Sơn phủ Quốc Oai.
NGÔ NGỌC 吳鈺24 người huyện Yên Phong phủ Từ Sơn.
BÙI PHỔ 裴溥25 người huyện Nghi Dương phủ Kinh Môn.
NGUYỄN THUẦN HỖ 阮純嘏26 người huyện Thiên Thi phủ Khoái Châu.
PHẠM HẠO 范皞27 người huyện Kim Thành phủ Kinh Môn.
NGUYỄN QUẢNG TRINH 阮廣貞28người huyện Cẩm Giàng phủ Thượng Hồng.
ĐỖ ĐẠT 杜達29 người huyện Thạch Thất phủ Quốc Oai.
TRẦN HOÀNH 陳竤30 người huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.
PHẠM BẢO 范寶31 người huyện Đại An phủ Kiến Hưng.
TRẦN BÂN 陳彬32 người huyện Tân Minh phủ Nam Sách.
VŨ ĐÔN 武惇33 người huyện Đường An phủ Thượng Hồng.
ĐẶNG MINH KHIÊM 鄧鳴謙34 người huyện Sơn Vi phủ Thao Giang.
TRẦN KỲ 陳琦35 người huyện Thiên Bản phủ Kiến Hưng.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 27 người:
PHẠM TRÂN 范珍36 người huyện Thanh Đàm phủ Thường Tín.
NGUYỄN THÔNG DOÃN 阮通允37 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.
NGUYỄN ÚC 阮郁38 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
PHẠM NẠI 范鼐39 người huyện La Giang phủ Đức Quang.
VŨ PHẤT 武黻40 người huyện An Dương phủ Kinh Môn.
NGUYỄN DUY MINH 阮惟明41 người huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn.
NGUYỄN DIỆU HUY 阮耀輝42 người huyện Thiện Tài phủ Thuận An.
NGUYỄN HANH PHU 阮亨敷43 người huyện Tiên Du phủ Từ Sơn.
NGUYỄN THÙ 阮洙44 người huyện Đông An phủ Khoái Châu.
NGUYỄN NHO TÔNG 阮儒宗45 người huyện Thiên Thi phủ Khoái Châu.
NGUYỄN TỦNG MỤC 阮竦穆46 người huyện Diên Hà phủ Tiên Hưng.
NGUYỄN TUYÊN CẦN 阮宣勤47 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
PHẠM CHÂN 范甄48 người huyện Cẩm Giang phủ Thượng Hồng.
NGUYỄN TUÂN ĐẠO 阮遵道49 người huyện Chí Linh phủ Nam Sách.
ĐOÀN HUỆ NHU 段惠柔50 người huyện Ngự Thiên phủ Tân Hưng.
PHẠM THỊNH 范盛51 người huyện Gia Định phủ Thuận An.
ĐẶNG TÁN 鄧讚52 người huyện Sơn Vi phủ Thao Giang.
ĐỖ THUẦN THÔNG 杜純聰53 người huyện Đông Yên phủ Khoái Châu.
NGUYỄN TRINH BIỂU 阮貞表54 người huyện Yên Lạc phủ Tam Đới.
HOÀNG NGẠN CHƯƠNG 黃彥璋55 người huyện Nghi Xuân phủ Đức Quang.
PHẠM HOÀ XUÂN 范和春56 người huyện Sơn Minh phủ Ứng Thiên.
NGUYỄN THẬN LỄ 阮慎禮57 người huyện Kim Hoa phủ Bắc Giang.
LƯU TÚC 劉肅58 người huyện Bạch Hạc phủ Tam Đới.
VŨ MẬT 武密59 người huyện Đường An phủ Thượng Hồng.
NGUYỄN NGUNG 阮顒60 người huyện Thạch Thất phủ Tam Đới.
NGUYỄN ÍCH CỮU 阮益臼 61người huyện Vĩnh Xương phủ Phụng Thiên.
TRÌNH CHÍ SÂM 程志森62 người huyện Vĩnh Xương phủ Phụng Thiên.
Đề điệu:
Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Trụ quốc Kinh Dương bá Lê Quyền.
Thượng thư Bộ Hình Trung trinh đại phu Khuông mỹ Thiếu doãn Quách Đình Bảo.
Độc quyển:
Phụng trực đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Học sĩ Tư chính Thượng khanh Thân Nhân Trung.
Gia hạnh đại phu Hàn lâm viện Thị độc Đông các Đại học sĩ Khuông mỹ doãn Đỗ Nhuận.
Hữu Thị lang Bộ Binh Hiển cung đại phu Nguyễn Đôn Phục.
Hiển lượng đại phu Hàn lâm viện Thị thư Chưởng Hàn lâm viện sự [...] Sùng văn quán Tú lâm cục Tư huấn Lương Thế Vinh.
Hiển cung đại phu Hàn lâm viện Thị độc Đông các Hiệu thư Đào Cử.
Hiển cung đại phu hữu [...] phường Hữu duyệt thư Ông Nghĩa Đạt.
Giám thí:
Tả Thị lang Bộ Lại Trung trinh đại phu Khuông mỹ Thiếu doãn Bùi Viết Lương.
Ngự sử đài kiêm Đô Ngự sử Hiển cung đại phu Nguyễn Hoằng Thạc.
Chú thích:
1. Câu trích trong Kinh thi: “Tư hoàng đa sĩ, sinh thử vương quốc” Hiền sĩ tuấn kiệt, sinh ở nước vua (Đại nhã, Văn vương).
2. Nguyên văn: Cổ nhân vô dịch, dự mao tư sĩ.
3. Trần Sùng Dĩnh (1465-?) người xã Đông Khê huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã An Lâm huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hộ. Khi mất được dân bản xã phong làm phúc thần.
4. Nguyễn Đức Huấn (?-?) người xã An Đình huyện Chí Linh (nay thuộc xã Nhân Huệ huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư, tước Ninh Quận công và từng được cử đi sứ.
5. Thân Cảnh Vân (1463-?) người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Ninh Sơn huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang). Ông là cháu nội Thân Nhân Trung, con của Thân Nhân Tín và làm quan Thị lang.
6. Vũ Cảnh (1462-?) người xã Dưỡng Động huyện Thuỷ Đường (nay thuộc xã Minh Tân huyện Thủy Nguyên Tp. Hải Phòng), trú quán xã Kim Đôi huyện Lang Tài (nay thuộc xã Kim Chân huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng thư kiêm Đô Ngự sử.
7. Nguyễn Thẩm Lộc (1464-?) người xã Đồn Bối huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Nam Hồng huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Tham chính. Khi mất, ông được tặng Phó Đô Ngự sử.
8. Nguyễn Lý Tường (?-?) người xã Bình Hà huyện Thanh Oai (nay thuộc huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
9. Đinh Trung Thuần (1463-?) người xã Phùng Xá huyện Ý Yên (nay thuộc xã Yên Khánh huyện Ý Yên tỉnh Nam Định). Ông làm quan Thượng thư.
10. Bùi Đoan Giáo (?-?) người xã Đại Điền huyện Bình Hà (nay thuộc xã Hồng Lạc huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thông chính sứ và từng được cử đi sứ.
11. Nguyễn Bảo Khuê (1456-?) người xã Lý Hải huyện Yên Lãng (nay thuộc Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Hình, Đô đình uý, thành viên Hội Tao Đàn và từng được cử đi sứ.
12. Ngô Hoan (1452-?) người xã Nghiêm Xá huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Tân Minh huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Đô Ngự sử, thành viên Hội Tao Đàn và từng được cử đi sứ.
13. Nguyễn Cẩn Liêm (?-?) người xã Đại Đồng huyện Liêu Loại (nay là xã Đại Đồng Thành huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan đến chức Tả Thị lang.
14. Vũ Trật (1463-?) người xã Lỗ Hiền huyện Lôi Dương (nay thuộc địa phận huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
15. Vũ Triệt Vũ (1460-?) người xã Đào Lãng huyện Đại An (nay thuộc xã Yên Đồng huyện Ý Yên tỉnh Nam Định). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Hình.
16. Phạm Viện (?-?) người huyện Vũ Tiên (nay thuộc huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Tham Chính. Có sách ghi ông là Nguyễn Viên.
17. Trịnh Quỳ (1460-?) người xã Tử Dương huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Tô Hiệu huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lại.
18. Nguyễn Ứng Triệu (?-?) người huyện Tứ Kỳ (thuộc huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương ngày nay). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
19. Phạm Tuấn (1453-?) người xã Đồn Bối huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Nam Hồng huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Tri phủ.
20. Vũ Loan (?-?) người xã Tuy Lai huyện Đường An (nay thuộc xã Vĩnh Tuy huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
21. Nguyễn Lệ (?-?) người xã Bình Hồ huyện Đông Yên (nay thuộc xã Quảng Lãng huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên), trú quán xã Thổ Hoàng cùng huyện. Ông làm quan Thị lang.
22. Nguyễn Lý Uyên (1463-?) người xã Cổ Điển huyện Thanh Đàm (nay thuộc xã Tứ Hiệp huyện Thanh Trì Hà Nội). Ông làm quan Hàn lâm viện Hiệu lý.
23. Nguyễn Thừa Phủ (?-?) người xã Yên Nội huyện Ninh Sơn (nay thuộc xã Đồng Quang huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tự khanh. Có sách chép ông là Nguyễn Thừa Phất .
24. Ngô Ngọc (1475-?) người làng Vọng Nguyệt huyện Yên Phong (nay thuộc xã Tam Giang huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Lễ khoa Đô Cấp sự trung.
25. Bùi Phổ (1463-?) người xã Lê Xá huyện Nghi Dương (nay thuộc xã Tú Sơn huyện Kiến Thụy Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Hàn lâm viện Hiệu lý và là thành viên Hội Tao Đàn.
26. Nguyễn Thuần Hỗ (1469-?) người xã Trà Mạt huyện Thiên Thi (nay thuộc xã Hồng Vân huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
27. Phạm Hạo (?-?) người xã Quỳnh Khê huyện Kim Thành (nay thuộc xã Kim Xuyên huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư.
28. Nguyễn Quảng Trinh (?-?) người xã Hoàng Gia huyện Cẩm Giàng (nay thuộc xã Cẩm Vũ huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
29. Đỗ Đạt (1460-?) người xã Nguyễn Xá huyện Thạch Thất (nay thuộc huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
30. Trần Hoành (?-?) người xã Ngọc Tái huyện Tứ Kỳ (nay thuộc xã Ngọc Kỳ huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hàn lâm.
31. Phạm Bảo (?-?) người huyện Đại An (nay thuộc xã Yên Nhân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định). Ông làm quan Phó Đô Ngự sử.
32. Trần Bân (?-?) người xã Lạc Đông huyện Tân Minh (nay thuộc huyện Tiên Lãng Tp. Hải Phòng). Ông giữ các chức quan, như Đô Ngự sử, Thượng thư Bộ Lại kiêm Quốc tử giám Tế tửu.
33. Vũ Đôn (?-?) người xã Mộ Trạch huyện Đường An (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
34. Đặng Minh Khiêm (?-?) hiệu là Thoát Hiênvà tự Trinh Dự , nguyên quán ở huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh; sau di đến ở xã Mạo Phố, huyện Sơn Vi (nay thuộc huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ). Ông giữ các chức quan, như Thượng thư kiêm Sử quán Tổng tài, Tri Chiêu văn quán, Tú lâm cục và từng được cử 2 lần đi sứ.
35. Trần Kỳ (?-?) người xã An Thái huyên Thiên Bản (nay thuộc xã Kim Thái huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định). Ông làm quan Hàn lâm.
36. Phạm Trân (?-?) người xã Đông Phù Liệt huyện Thanh Đàm (nay thuộc xã Đông Mỹ huyện Thanh Trì Tp. Hà Nội). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
37. Nguyễn Thông Doãn (?-?) người xã Tăng Quảng huyện Thanh Oai (nay thuộc huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tự khanh. Có sách ghi ông là Nguyễn Doãn Thông hoặc Nguyễn Doãn Địch.
38. Nguyễn Úc (?-?) người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn (nay là xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lại và từng được cử đi sứ.
39. Phạm Nại (1462-?) người xã Bình Hồ huyện La Giang (nay thuộc xã Yên Hồ huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan đến chức Phủ doãn phủ Phụng Thiên.
40. Vũ Phất (1464-?) người xã An Châu huyện An Dương (nay thuộc quận Hồng Bàng Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Hàn lâm viện Hiệu thảo.
41. Nguyễn Duy Minh (1468-?) người xã Hà Trường huyện Giáp Sơn (nay thuộc xã Thăng Long huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Tả Thị lang.
42. Nguyễn Diệu Huy (1464-?) người xã Phí Xá huyện Thiện Tài (nay thuộc huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quanPhó Đô Ngự sử. Có sách ghi ông là Nguyễn Huy Diệu.
43. Nguyễn Hanh Phu (1486-?) người xã Nội Duệ huyện Tiên Du (nay là xã Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thị lang.
44. Nguyễn Thù (?-?) người xã Bình Hồ huyện Đông Yên (nay thuộc xã Quảng Lãng huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên), trú quán xã Thổ Hoàng (nay cùng huyện). Ông làm quan Tham chính.
45 Nguyễn Nho Tông (?-?) người xã Vực Đường huyện Thiên Thi (nay thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Thượng thư và được cử đi sứ.
46. Nguyễn Tủng Mục (?-?) người xã Hiến Nạp huyện Diên Hà (nay thuộc xã Minh Khai huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Thị lang.
47. Nguyễn Tuyên Cần (1461-1543) người xã Uông Hạ huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Minh Tân huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Hình, sau khi mất, ông được tặng Thượng thư Bộ Lễ tước Thận Lộc hầu.
48. Phạm Chân (1461-?) người xã Kim Lan (sau đổi là Kim Quan) huyện Cẩm Giàng (nay thuộc xã Kim Giang huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Đông các Đại học sĩ.
49. Nguyễn Tuân Đạo (?-?) người xã Hộ Xá huyện Chí Linh (nay thuộc xã Quốc Tuấn huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Sau ông đổi sang ngạch quan võ và làm đến chức Tổng binh sứ. Có sách chép là Nguyễn Đạo Tuân.
50. Đoàn Huệ Nhu (?-?) người xã Phù Vệ huyện Ngự Thiên (nay thuộc xã Liên Hiệp huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Thừa chính sứ.
51. Phạm Thịnh (?-?) người xã Tam Á huyện Gia Định (nay thuộc xã Gia Đông huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông là quan đến chức Thượng thư và 2 lần đước cử đi sứ.
52. Đặng Tán (?-?) người xã Mạo Phổ huyện Sơn Vi (nay thuộc huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ). Ông làm quan Hữu Thị lang và được cử đi sứ.
53. Đỗ Thuần Thông (?-?) người xã Tử Kiều huyện Đông Yên (nay thuộc xã Giai Phạm huyện Yên Mĩ tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Thừa chính sứ.
54. Nguyễn Trinh Biểu (1453-?) người châu Các Sa huyện Yên Lạc (nay thuộc xã Trung Kiên huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Tham chính.
55. Hoàng Ngạn Chương (?-?) người xã Mỹ Dương huyện Nghi Xuân (nay thuộc xã Xuân Mỹ huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Thừa chính sứ.
56. Phạm Hoà Xuân (1461-?) người xã Xà Cầu huyện Sơn Minh (nay thuộc xã Liên Bạt huyện Ứng Hoà tỉnh Hà Tây). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
57. Nguyễn Thận Lễ (?-?) người xã Phù Lỗ huyện Kim Hoa (nay thuộc xã Phù Lỗ huyện Sóc Sơn Tp. Hà Nội). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ. Ông là em Nguyễn Tĩnh và Nguyễn Dương Hiến.
58. Lưu Túc (?-?) người xã Vũ Di huyện Bạch Hạc (nay là xã Vũ Di huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Thượng thư.
59. Vũ Mật (?-?) người xã Tuy Lai huyện Đường An (nay thuộc xã Vĩnh Tuy huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
60. Nguyễn Ngung (1469-?) người xã Hữu Bằng huyện Thạch Thất (nay thuộc xã Hữu Bằng huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm viện Hiệu thảo, Thượng thư Bộ Lại và được phong tước hầu.
61. Nguyễn Ích Cữu (1460-?) người huyện Vĩnh Xương (nay thuộc quận Ba Đình Tp. Hà Nội), trú quán huyện Đông Yên (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Hàn lâm. Có sách ghi ông là Nguyễn Ích Ngân
62. Trình Chí Sâm (?-?) người phường Khúc Phố huyện Vĩnh Xương (nay thuộc quận Ba Đình Tp. Hà Nội), trú quán xã Từ Hồ huyện Đông Yên (nay thuộc xã Yên Phú huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên). Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Công, Thiếu bảo Chưởng Lục bộ kiêm Đông các Đại học sỹ, tước Từ Hồ bá.
Tử Hà
04-20-09, 10:18:09 PM
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA BÍNH THÌN NIÊN HIỆU HỒNG ĐỨC NĂM THỨ 27 (1496)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_810.jpg
Thánh hoàng đế trị vì 37 năm, muôn cõi chung hưởng cảnh xuân, chín châu hợp về một mối, nền trí trị sáng tựa mặt trời, anh tài họp dường mây tụ. Mùa xuân năm đó là năm mở khoa thi, [sĩ nhân trong nước tới kinh đô dự thi rất đông, mà số trúng cách] được 43 người. Ngày Đinh Dậu 19 tháng 3, Hoàng thượng ngự tại điện Kính Thiên [ra bài văn sách hỏi về đạo trị nước]. Sai Đề điệu là Binh bộ Thượng thư Định Công bá Trịnh Công Đán, Ngự sử đài Đô Ngự sử Quách Hữu Nghiêm, Giám thí là Hộ bộ Hữu Thị lang Nguyễn Hoằng [...]1 cùng các quan lớn nhỏ chia giữ các việc.
Sáng hôm sau [...] bọn Đào Thuấn Cử dâng quyển để Hoàng thượng ngự lãm. Ngày Canh Tý 22 tháng ấy quan hữu ti dẫn những người trúng cách vào sân điện Kim Quang, Hoàng đế đích thân xem dung mạo xét định, chọn lấy 30 người. Đến ngày Ất Tị 27, vua ngự tại điện chính để làm lễ xướng danh. Ban cho bọn Nghiêm Viện trở xuống các hạng Tiến sĩ cập đệ, Tiến sĩ xuất thân có thứ bậc khác nhau. Ban cấp ân vinh y theo điển cũ. Lại sai Bộ Công khắc đá, sai Lưu Hưng Hiếu làm bài ký ghi lại sự việc.
Thần kính cẩn cúi đầu rập đầu dâng lời rằng:
[...] Từ xưa các bậc đế vương trị nước, chấn hưng giáo hóa mở mang thịnh trị không vị nào không coi việc cầu nhân tài, kén kẻ sĩ là việc đầu tiên.
Kính nghĩ Hoàng đế bệ hạ đem tư chất thánh trí anh minh, nối vận hội thái bình chăm lo mưu trị, khuya sớm dùi mài, cầu người hiền bằng nhiều phương, kén người giỏi bằng đủ lối. Lại dựng trường học để dự bị người tài, đặt khoa thi để tác thành kẻ sĩ. Hoàng thượng ngự ở hiên điện, đích thân ra câu hỏi để xét tuyển, cho yết bảng đề tên người thi đỗ để được vẻ vang. Quy mô mưu trị, ý đẹp chấn tác hiền tài như thế thực đã đi chung một đường với các bậc thánh chúa minh quân đời xưa vậy.
Kẻ sĩ sinh ở đời này thật may mắn làm sao! Vậy nên phải cốt ở thực chất, lánh bỏ hư danh, văn chương phải cứng cỏi hồn thuần, sự nghiệp phải lâu dài to lớn, cũng như bảng Long hổ đời Đường được Hàn Dũ làm vẻ vang cho nước [...] khiến người đời sau nhón chân kính ngưỡng không thôi, như thế há chẳng phải đẹp hay sao? Thảng hoặc có người làm những việc khác với sở học, danh trái với thực, như Công Tôn tà học xu thời, An Thạch phép mới gạt dân, khoa mục thẹn lây, đá xanh lấm vết, chẳng những trái hẳn ý triều đình đặt khoa thi chọn học trò, mà còn khiến cho chí nguyện bình sinh trẻ học lớn làm của sĩ tử cũng bị hổ thẹn sâu sắc. Há chẳng nên tự răn sao?
Thần kính cẩn làm bài ký.
Hiển cung đại phu Hàn lâm viện Thị giảng Tham Chưởng Hàn lâm viện sự Lưu Hưng Hiếu2 vâng sắc soạn.
Cẩn sự lang Trung thư giám Chính tự Nguyễn Đức vâng sắc viết chữ (chân).
Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Nguyễn Nhân vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng ngày 6 tháng 12 niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496).
Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:
NGHIÊM VIỆN 嚴瑗3 người xã Bồng Lai huyện Quế Dương.
NGUYỄN HUÂN 阮勛4 người xã Kim Đôi huyện Vũ Giàng.
ĐINH LƯU 丁鎏5 người xã An Dật huyện Thanh Lâm.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 8 người:
ĐINH CƯƠNG 丁疆6 người xã Tiên Táo huyện Bình Hà.
NGUYỄN THANH 阮清7 người xã Nghĩa Trai huyện Gia Lâm.
ĐẶNG MIỄN CUNG 鄧勉恭8 người xã Văn Triền huyện Bình Hà.
LÊ QUÝNH 黎絅9 người xã Tuy Lai huyện Vũ Tiên.
TRIỆU NGHỊ PHÙ 趙誼符10 người xã Đức Lạp huyện Lập Thạch.
PHẠM CẢNH LƯƠNG 范景良11 người xã Bất Náo huyện Kim Thành.
PHẠM GIỚI 范玠12 người huyện Tiên Phong.
NGUYỄN KHIẾT TÚ 阮潔秀13 người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 19 người:
NGUYỄN ĐẠO DIỄN 阮道演14 người xã Kim Đôi huyện Vũ Giàng.
TRẦN CỦNG UYÊN 陳鞏淵15 người xã Ngoại Lãng huyện Thư Trì.
PHẠM THÔNG 范聰16 người xã Nhất Trai huyện Lương Tài.
VĂN VĨ 文偉17 người xã Cát Vũ huyện Bạch Hạc.
NGUYỄN CỦNG THUẬN 阮拱順18 người xã Kim Đôi huyện Vũ Giàng.
NGUYỄN TỔ KHUÊ 阮組珪19 người xã La Xá huyện Giáp Sơn.
TRẦN TƯỚC 陳爵20 người xã Yên Lạc huyện La Sơn.
HOÀNG KIỂU VINH 黃矯榮21 người xã Dục Đại huyện Thanh Lâm.
NGUYỄN TƯỜNG PHIÊU 阮翔縹22 người xã Đỗ Tùng huyện Gia Phúc.
ĐÀM TỤY 譚萃23 người xã Hoàng Gia huyện Cẩm Giàng.
ĐỖ TÚC KHANG 杜夙康24 người xã Hà Vĩ huyện Đông Ngàn.
NGUYỄN KIỆN HY 阮健僖25 người huyện Duy Tiên.
VŨ TIẾN CHIÊU 武進昭26 người xã Vĩ Vũ huyện Vũ Giàng.
NGUYỄN THƯỢNG NGHIÊM 阮尚嚴27 người xã Khúc Toại huyện Yên Phong.
NGUYỄN SỞ THÙY 阮楚倕28 người xã Thanh Sơn huyện Vũ Giàng.
ĐỖ TOẠI 杜璲29 người xã An Bài huyện Phụ Dực.
ĐỖ HOẰNG 杜弘30 người xã Nghĩa Bổng huyện Thư Trì.
TRẦN KHẢI ĐỄ 陳愷悌31 người xã Thanh Lãng huyện Yên Lãng.
NGUYỄN KÍNH 阮敬32 người xã Kim Đôi huyện Vũ Giàng.
Chú thích:
1. Những chỗ trên bia chữ bị mờ mòn không đọc được, chúng tôi đặt dấu 3 chấm trong ngoặc vuông.
2. Lưu Hưng Hiếu (1456-?) thi đỗ Bảng nhãn khoa Tân Sửu năm Hồng Đức thứ 12 (1481). Xem chú thích số 6, Bia số 7.
3. Nghiêm Viện (?-?) người xã Bồng Lai huyện Quế Dương (nay thuộc xã Bồng Lai huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông vốn tên là Nghiêm Viên, vua Lê Thánh Tông đổi tên cho gọi là Nghiêm Viện và gả công chúa cho.
4. Nguyễn Huân (1473-?) người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Kim Chân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông đi thi đều đỗ đầu, làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lễ. Sau khi mất, ông được tặng hàm Thiếu bảo.
5. Đinh Lưu (1479-?) người thôn An Dật huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Thái Tân huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Đông các Đại học sĩ.
6. Đinh Cương (?-?) người xã Tiên Táo huyện Bình Hà (nay thuộc xã Thanh An huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Ông được vua phê đổi tên là Cường. Sau ông theo nhà Mạc, làm quan Thượng thư Bộ Lại, tước hầu và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
7. Nguyễn Thanh (1467-?) người xã Nghĩa Trai huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Tân Quang huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Sau ông theo nhà Mạc và làm quan đến Thượng thư Bộ Lễ kiêm Đông các Đại học sĩ, Nhập thị Kinh diên, tước Văn Đàm bá.
8. Đặng Miễn Cung (?-?) người xã Văn Mặc huyện Bình Hà (nay thuộc xã Liên Mạc huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Hiến sát sứ.
9. Lê Quýnh (?-?) người làng Tuy Lai huyện Vũ Tiên (nay thuộc xã Phú Xuân huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình). Ông làm quan đến Hiến sát sứ.
10. Triệu Nghị Phù (1462-?) người xã Đức Lạp huyện Lập Thạch (nay thuộc huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc). Ông thi đỗ Trạng nguyên nhưng phạm lỗi bị truất xuống Đệ nhị giáp. Có sách ghi là Triệu Tuyên Phù Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
11. Phạm Cảnh Lương (?-?) người xã Bất Nhiễm huyện Kim Thành (nay thuộc xã Kim Anh huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
12. Phạm Giới (1470-?) người huyện Tiên Phong (nay là vùng đất huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
13. Nguyễn Khiết Tú (?-?) người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn (nay là xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Tham chính.
14. Nguyễn Đạo Diễn (1468-?) người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Kim Chân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan đến Hiến sát sứ.
15. Trần Củng Uyên (1470-?) người làng Ngoại Lãng huyện Thư Trì (nay thuộc xã Song Lãng huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Hiến sát sứ.
16. Phạm Thông (?-?) người xã Nhất Trai huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Minh Tân huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông từng làm quan Thiên đô Ngự sử.
17. Văn Vĩ (1470-?) người xã Cát Vũ huyện Bạch Hạc (nay thuộc xã Đại Tự huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan đến Hình khoa Đô Cấp sự trung.
18. Nguyễn Củng Thuận (1472-?) người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Kim Chân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan đến Tả Thị lang Bộ Lại.
19. Nguyễn Tổ Khuê (?-?) người xã La Xá huyện Giáp Sơn (nay thuộc xã Thượng Quận huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Đoán sự.
20. Trần Tước (1470-?) người xã Cổ Ngu huyện La Giang (nay thuộc xã Đức Lâm huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh). Ông giữ các chức quan, như Tri huyện, Giám sát Ngự sử.
21. Hoàng Kiểu Vinh (1454-?) người xã Dục Đại huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã An Sơn huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Sau di cư đến xã An Trang huyện Thiện Tài (nay thuộc huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông giữ các chức quan, như Đô đình uý, Thượng thư và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
22. Nguyễn Tường Phiêu (?-?) người xã Đỗ Tùng huyện Gia Phúc (nay thuộc xã Đoàn Tùng huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Thừa chính sứ. Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư và phong phúc thần.
23. Đàm Tụy (1453-?) người xã Hoàng Gia huyện Cẩm Giàng (nay thuộc xã Cẩm Vũ huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Thượng thư.
24. Đỗ Túc Khang (?-?) người xã Hà Vĩ huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Liên Hà huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan đến Thừa chính sứ.
25. Nguyễn Kiện Hy (1470-?) người huyện Duy Tân (nay thuộc huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam). Ông làm quan Hàn lâm viện Thị độc.
26. Vũ Tiến Chiêu (?-?) người xã Vĩ Vũ huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Vũ Ninh thị xã Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Tham chính.
27. Nguyễn Thượng Nghiêm (?-?) người xã Khúc Toại huyện Yên Phong (nay thuộc xã Khúc Xuyên huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thừa chính sứ.
28. Nguyễn Sở Thùy (?-?) người xã Thanh Sơn huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Vũ Ninh thị xã Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan đến Hiến sát sứ.
29. Đỗ Toại (?-?) người làng An Bài huyện Phụ Dực (nay thuộc xã An Bài huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Thị lang và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
30. Đỗ Hoằng (?-?) người xã Nghĩa Bổng huyện Thư Trì (nay thuộc xã Việt Hùng huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình). Ông làm quan đến Thị lang.
31. Trần Khải Đễ (1469-?) người xã Thanh Lãng huyện Thanh Lãng (nay thuộc xã Thanh Lãng thị xã Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Tham chính.
32. Nguyễn Kính (1479-?) người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Kim Chân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng thư và được cử đi sứ hai lần.
Tử Hà
04-20-09, 10:19:13 PM
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA NHÂM TUẤT NIÊN HIỆU CẢNH THỐNG NĂM THỨ 5 (1502)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_809.jpg
Mở khoa thi Tiến sĩ là quy chế đã định sẵn để kén chọn kẻ sĩ, khắc đá đề danh cốt để rộng rãi khuyến khích nhân tài. Các triều trước đều lấy đó để làm sáng tỏ nhân văn, thánh triều cũng lấy đó để nâng cao hiệu quả trị đạo. Đại khái kinh điển giáo hóa lớn của triều đình hàm chứa trong đó, đâu phải chỉ để ghi sự việc cho đẹp mắt mà thôi đâu!
Mùa xuân năm Nhâm Tuất niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502), Bộ Lễ theo lệ cũ, mở khoa thi Hội các Cử nhân trong nước, số dự thi đông đến 5000. Qua bốn trường lấy trúng cách được 61 người, đưa tên dâng lên. Hoàng thượng đích thân hỏi thi ở sân rồng. Sai Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Nam quân Phò mã đô uý Lâm Hoài bá Trụ quốc Lê Đạt Chiêu, Hộ bộ Thượng thư Vũ Hữu, Binh bộ Tả Thị lang Dương Trực Nguyên, Ngự sử đài Thiêm Đô Ngự sử Bùi Xương Trạch chia giữ các việc. Lễ bộ Thượng thư Tả xuân phường Tả dụ đức kiêm Đông các Đại học sĩ Đàm Văn Lễ, Lễ bộ Thượng thư kiêm Hàn lâm viện Thị độc Chưởng Hàn lâm viện sự Nguyễn Bảo, Lễ bộ Tả Thị lang kiêm Đông các Học sĩ Lê Ngạn Tá; Quốc tử giám Tế tửu Hà Công Trình, Tư nghiệp Hoàng Bồi, Thái thường Tự khanh Nghiêm Lâm dâng quyển lên đọc. Hoàng thượng đích thân xem xét, ban cho bọn Lê Ích Mộc 3 người đỗ Tiến sĩ cập đệ, bọn Nguyễn Cảnh Diễn 24 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Phạm Khiêm Ích 34 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân.
Tư thiên giám chọn ngày tốt, Hoàng thượng ngự điện Kính Thiên, sai truyền loa xướng tên người thi đỗ, trăm quan mặc triều phục chúc mừng. Mấy năm trước bảng vàng treo ngoài cửa Đông Hoa, năm nay sai Bộ Lễ rước bảng có trống nhạc dẫn trước, đem treo ngoài cửa nhà Thái học, cốt khiến cho sĩ tử nhìn thấy mà thêm phần khích lệ. Ân vinh ban theo thứ bậc, thảy đều theo lệ cũ. Quan Bộ Công theo lệ khắc đá đề danh để truyền tới lâu dài. Sai từ thần soạn bài ký. Thần là Đàm Văn Lễ kém cỏi, giữ trách nhiệm soạn thuật, không dám lấy cớ quê mùa chối từ.
Thần trộm nghĩ: đời Thành Chu bắt đầu có khoa tuyển Tiến sĩ1, đến đời Đường Tống rất thịnh hành, nhân tài nối nhau xuất hiện, nền chính trị mở mang đầy đủ, sách vở còn ghi chép rõ ràng có thể tra cứu được.
Kính nghĩ liệt thánh triều ta, dựng nhà học, chuộng văn Nho, đặt khoa thi lấy học trò, mở nền thịnh trị thái bình muôn thuở. Sở dĩ có thể sửa sang thế đạo, tô điểm hoàng đồ, tôn cho vua được như Nghiêu Thuấn, khiến cho dân được như dân thời Đường Ngu, há chẳng phải do khoa mục chọn hiền tài mà đạt được hay sao?
Kính nghĩ Hoàng đế bệ hạ, sự nghiệp nối tiếp hai vua, truyền thống kế thừa bốn thánh, chăm lo học đạo, trăn trở cầu hiền. Bao nhiêu điều quan yếu trong phép trị đạo của các đế vương thuở trước, cách thức cầu tìm hiền tài, phép thi cử chọn người đều được quán triệt, mở mang, trau dồi thêm đẹp. Quy phạm nghiêm ngặt, xử trí chặt chẽ, lựa chọn kỹ càng, thật đã chu đáo hết mức vậy. Nhờ thế danh sĩ tụ hội rất đông, người tài tìm đến, lựa chọn được nhân tài hơn hẳn mấy đời trước. Kẻ sĩ gặp thời cá nước, được hội gió mây. Người được dự vào hàng thị tòng, người vào ban gián nghị, hoặc sung chức ở các bộ các ti vẫn nên giữ tiết trung thành, trau dồi đức hạnh, nuôi ý chí, gắng sự nghiệp, bắt chước Cao, Quỳ, Chu, Thiệu2, sánh hàng Hàn, Lục, Âu, Tô3, tiếng để đời mình, công dành hậu thế, trên không phụ thịnh ý triều đình cất nhắc, dưới không phụ ý chí hoài bão thường ngày. Được như vậy thì tấm đá này khắc ra, càng lâu càng thêm sáng vậy. Nếu như sau trước khác nhau, ngoài là ngọc mà trong là đá, hoặc học tà như Công Tôn, hoặc biến tiết như Nguyên Chân, hoặc nham hiểm như Đinh Vị, hoặc gian tà như An Thạch, những điều người ta đọc thấy không giống như dư luận người ta đã nghe, việc làm trái với điều đã học, thì người đời sau xem bia sẽ chỉ vào tên mà chỉ trích chê cười, ngàn năm sau, tấm đá này đã bị tì vết thì làm sao có thể mài rửa được?
Quyền vua phép nước ngời ngời, thanh danh giáo hóa nghiêm nghị, các bậc quân tử có thể nào lại không tự trọng hay sao!
Thượng thư Bộ Lễ, Gia hạnh đại phu Tả xuân phường Tả dụ đức kiêm Đông các Đại học sĩ Khuông nghĩa doãn Đàm Văn Lễ vâng sắc soạn.
Bia dựng ngày 10 tháng 11 niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502).
Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:
LÊ ÍCH MỘC 黎益沐4 người xã Thanh Lãng huyện Thuỷ Đường phủ Kinh Môn.
LÊ SẠN 黎棧5 người xã Vạn Phúc huyện Thanh Trì phủ Thường Tín. 35 tuổi.
NGUYỄN VĂN THÁI 阮文泰6 người xã Tiền Liệt huyện Vĩnh Lại.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 24 người:
NGUYỄN CẢNH DIỄN 阮景演7 người xã Yên Tử huyện Tân Minh phủ Nam Sách.
NGUYỄN ĐỨC KHÂM 阮德欽8 người xã Uông Hạ huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
NGUYỄN NHƯ CÔN 阮如琨9 người xã Trại Sơn huyện Giáp Sơn.
TRẦN DỰC 陳翼10 người xã Ngải Lăng huyện La Sơn.
LÊ VĂN HỌC 黎文學11 người xã Đông Tháp huyện Đông Thành.
HẠ NGỌC CHÚC 夏玉燭12 người xã Yên Duyệt huyện Chương Đức.
NGUYỄN NGẠN 阮彥13 người xã Yên Khoái huyện Phú Xuyên.
NGUYỄN VĨNH KIÊN 阮永堅14 người xã Yên Ninh huyện Cẩm Giàng.
ĐẶNG TUYÊN 鄧宣15 người xã Lạc Dục huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.
NGUYỄN BÁ TÙNG 阮伯松16 người xã Tạ Xá huyện Tứ Kỳ.
NGUYỄN ĐỐC 阮篤17 người xã Thổ Giá huyện Nông Cống.
VŨ BÁ DUNG 武伯庸18 người xã Thanh Giản huyện Đường An.
VŨ CÁN 武幹19 người xã Mộ Trạch huyện Đường An.
NGÔ VĂN HUY 吳文輝20 người xã Trâu Khê huyện Đường An.
TRƯƠNG ĐỨC QUANG 張德光21 người xã Ngọc Xuyết huyện Hoằng Hóa.
NGUYỄN CHƯỞNG 阮掌22 người xã Thanh Thủy huyện Tiên Phúc.
HOÀNG SĨ DỊCH 黃 士懌23 người xã Hoà Xá huyện Lương Tài.
NGUYỄN VĂN HIẾN 阮文獻24 người xã Vĩnh Thế huyện Siêu Loại.
VŨ BÁ THẮNG 武伯勝25 người xã Tiêu Sơn huyên Yên Phong.
MAI ĐỨC BÁ 梅德霸26 người xã Thạch Lỗi huyện Thạch Hà.
NGUYỄN TỰ 阮敘27 người xã Vĩnh Mỗ huyện Sơn Vi.
ĐOÀN NHÂN THỤC 段仁淑28 người xã Nghĩa Đô huyện Từ Liêm.
BÙI DỤC TÀI 裴育才29 người xã [...] huyện Hải Lăng.
LÊ NHÂN TẾ 黎仁濟30 người xã Đại Nhuệ huyện Hoằng Hóa.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 34 người:
PHẠM KHIÊM BÍNH 范謙柄31 người xã Lãm Sơn huyện Quế Dương.
NGUYỄN VĂN KIỆT 阮文傑32 người xã Mỹ Xá huyện Ngự Thiên.
NGUYỄN DUY MINH 阮維明33 người xã Thượng Cốc huyện Gia Lộc.
NGUYỄN KIM 阮金34 người xã Thạch Lựu huyện An Lão.
DOÃN MẬU KHÔI 尹茂魁35 người xã YênDuyên huyện Thượng Phúc.
NGUYỄN TỬ TRỌNG 阮子仲36 người xã An p huyện Hương Sơn.
CHỬ THIÊN KHẢI 褚天啟37 người xã Cối Giang huyện Đông Ngàn.
LÊ DỰC 黎翼38 người xã Bối Khê huyện Thanh Oai.
ĐỖ VĂN HIỆU 杜文校39 người xã Hữu Quang huyện Yên Sơn.
HOÀNG TỬ NGHI 黃子儀40 người xã Công Luận huyện Văn Giang.
NGUYỄN VĂN HIẾN 阮文獻41 người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng.
ĐINH TRINH 丁貞42 người xã Vị Khê huyện Thanh Lan.
ĐÀO NHƯ HỔ 陶如虎43 người xã Triều Đông huyện Thượng Phúc.
HOÀNG NHẠC 黃岳44 người xã Hoàng Xá huyện Đông Thành.
VŨ NGHI HƯỚNG 武宜向45 người xã Đại Vi huyện Tiên Du.
BÙI TÂN 裴新46 người xã Kim Bảng huyện Thiên Bản.
LÊ KIM CHƯƠNG 黎金璋47 người xã Thanh Mai huyện Yên Phong.
NGUYỄN THẾ MỸ 阮世美48 người xã Lang Khuê huyện Tiên Lữ.
NGUYỄN TRỌNG HƯNG 阮仲興49 người xã Đại Đồng huyện Siêu Loại.
BÙI DOÃN CHÍNH 裴允正50 người xã Thắng Trí huyện Bình Tuyền.
PHẠM TRÁNG 范壯51 người xã Dũng Nhuệ huyện Giao Thuỷ.
TRẦN LƯ 陳驢52 người xã Bình Vọng huyện Thượng Phúc.
PHAN ĐÌNH MỤC 潘廷睦53 người xã Tây Hồ huyện Quảng Đức.
NGUYỄN XUÂN LAN 阮春蘭54 người xã Thì Mại huyện Bảo Lộc.
TRẦN HUYÊN 陳暄55 người xã Diên An huyện Kim Động.
LÊ HIẾU TRUNG 黎孝忠56 người xã Chi Nê huyện Chương Đức.
NGUYỄN ĐOAN 阮端57 người xã Thụy Chương huyện Quảng Đức.
LÊ ĐÌNH TƯỞNG 黎廷獎58 người xã Cao Mật huyện Kim Bảng.
ĐÀO THÚC VIỆN 陶淑院59 người xã Song Khê huyện Yên Dũng.
NGUYỄN VĂN ĐỆ 阮文弟60 người xã Yên Nhân huyện Chương Đức.
VŨ BÁ HUYÊN 文伯諠61 người xã Tùng Du huyện Gia Phúc.
MẠC VĂN UY 莫文威62 người xã Mạc Xá huyện Thanh Lâm.
NGUYỄN TỬ KIẾN 阮子建63 người xã Trạch Lôi huyện Thạch Thất.
NGUYỄN MẬU 阮茂64 người xã Du La huyện Thanh Hà.
Quang lượng đại phu Trung thư giám Điển thư Chính tự khanh Phạm Định vâng viết chữ (chân).
Thông chương đại phu Kim quang môn Đãi chiếu Chính khanh Nguyễn Toản vâng viết chữ triện.
Bia dựng ngày 15 tháng 9 niên hiệu Đại Chính năm thứ 7 (1536)65.
Chú thích:
1. Nguyên văn: “Thành Chu chi thời thủy hữu Tiến sĩ chi tuyển”, nhưng thực thì không đúng như vậy. Vì lịch sử khoa cử Trung Quốc đã ghi rõ từ thời Xuân Thu, Chiến Quốc tuy có xét chọn người để cho học lên cấp cao hơn, nhưng phải đến đời Tùy Dạng đế (605-616) mới chính thức bắt đầu có khoa thi Tiến sĩ. (Xem Thương Diễn Lưu: Đại Thanh khoa cử pháp bị khảo, Bắc Kinh, 1958).
2. Cao, Quỳ, Chu, Thiệu: Cao là Cao Dao, Quỳ là Hậu Quỳ, hai vị danh thần đời Ngu Thuấn; Chu là Chu Công Đán, Thiệu là Thiệu Thích, hai vị hiền thần đời vua Võ Vương nhà Chu.
3. Hàn, Lục, Âu, Tô: tức là Hàn Dũ, Lục Chí, Âu Dương Tu và Tô Thức (Đông Pha). Bốn vị danh Nho của Trung Quốc.
4. Lê Ích Mộc (?-?) người xã Thanh Lãng huyện Thủy Đường (nay thuộc xã Quảng Thanh huyện Thủy Nguyên, Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Tả Thị lang.
5. Lê Sạn (1476-?) người xã Vạn Phúc huyện Thanh Đàm (nay là xã Vạn Phúc huyện Thanh Trì Tp. Hà Nội). Ông giữ chức các chức quan, như Đề sát, Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư Bộ Lại và từng được cử đi sứ nhà Minh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng tước Trung Huân bá. Có sách chép nhầm Lê Nga.
6. Nguyễn Văn Thái (1479-?) người xã Tiền Liệt huyện Vĩnh Lại (nay thuộc huyện Vĩnh Bảo Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Học sĩ, tước Đạo Xuyên bá và từng được cử làm Phó sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Khi Mạc Đăng Dung chiếm ngôi nhà Lê, ông ra làm quan cho nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước hầu. Ông từng được cử đi sứ phương Bắc hai lần, nhưng lần thứ hai bị giữ lại, rồi ông lấy vợ người Trung Quốc, sinh con là Ngạn Xán, theo họ mẹ là họ Trương. Trương Ngạn Xán sau này thi đỗ Tiến sĩ. Ông còn có tên là Nguyễn Trí Thái.
7. Nguyễn Cảnh Diễn (1447-?) người xã Yên Tử Thượng huyện Tân Minh (nay thuộc xã Khởi Nghĩa huyện Tiên Lãng Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lễ.
8. Nguyễn Đức Khâm (1470-?) người xã Uông Hạ huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Minh Tân huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
9. Nguyễn Như Côn (1481-?) người xã Trại Sơn huyện Giáp Sơn (nay thuộc xã An Sơn huyện Thủy Nguyên Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Chính đoán sự.
10. Trần Dực (1465-?) người xã Ngải Lãng huyện La Giang (nay thuộc huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh). Ông giữ các chức quan, như Tả Thị lang Bộ Hộ, Đông các Hiệu thư. Ông giỏi thơ phú quốc âm (chữ Nôm), thường dự các cuộc xướng họa thơ với vua, nhiều lần được khen thưởng.
11. Lê Văn Học (1470-?) người xã Đông Tháp huyện Đông Thành (nay thuộc xã Diễn Tháp huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An). Ông làm quan Tự khanh. Có tài liệu ghi ông người xã Lỗi Tuyền. Bia Văn Miếu tỉnh Hưng Yên ghi ông người xã Mạt Lỗi huyện Đông Yên.
12. Hạ Ngọc Chúc (1479-?) người xã An Duyệt huyện Chương Đức (nay thuộc xã Ngọc Sơn, huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây). Ông làm quan đến Hàn lâm viện Hiệu lý.
13. Nguyễn Ngạn (?-?) người xã Yên Khoái huyện Phú Xuyên (nay thuộc huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Đô Ngự sử.
14. Nguyễn Vĩnh Kiên (1473-?) người xã Yên Ninh huyện Cẩm Giàng (nay thuộc xã Cao An huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
15. Đặng Tuyên (?-?) người xã Lạc Dục huyện Tứ Kỳ (nay thuộc xã Hưng Đạo huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hiến sát sứ.
16. Nguyễn Bá Tùng (?-?) người xã Tạ Xá huyện Tứ Kỳ (nay thuộc huyện Vĩnh Bảo Tp. Hải Phòng). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
17. Nguyễn Đốc (?-?) người xã Thổ Giá huyện Nông Cống (nay thuộc xã Tế Thắng huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa). Sau theo nhà Mạc, làm quan Tả Thị lang Bộ Lại. Khi mất, ông được tặng Thượng thư Bộ Lễ.
18. Vũ Bá Dung (?-?) người xã Thanh Giản huyện Đường An (nay thuộc xã Hồng Khê huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Hàn lâm.
19. Vũ Cán (1475-?) hiệu Tùng Hiên, người xã Mộ Trạch huyện Đường An (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Lễ, Chưởng Hàn lâm viện sự, Nhập thị Kinh diên và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Ông là con Vũ Quỳnh.
20. Ngô Văn Huy (?-?) người xã Châu Khê huyện Đường An (nay thuộc xã Thúc Kháng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Tự khanh.
21. Trương Đức Quang (?-?) người xã Ngọc Xuyết huyện Hoằng Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Đề hình Giám sát Ngự sử và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Có sách ghi ông là Nguyễn Đức Quang.
22. Nguyễn Chưởng (1476-?) người xã Thanh Thủy huyện Tân Phúc (nay thuộc xã Đông Sơn huyện Sóc Sơn Tp. Hà Nội). Được vua phê đổi tên là Nguyễn Vĩnh Hòa. Ông làm quan Đô Ngự sử và từng được cử đi sứ.
23. Hoàng Sĩ Dịch (1450-?) người xã Lai Xá huyện Lang Tài (nay thuộc xã Phú Lương huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ. Ông là cha của Hoàng Sĩ Khải.
24. Nguyễn Văn Hiến (1476-?) người xã Vĩnh Thế huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Trí Quả huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lễ và được cử đi sứ.
25. Vũ Bá Thắng (?-?) người xã Tiên Sơn huyện Yên Phong (nay thuộc xã Tương Giang huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Tham chính.
26. Mai Đức Bá (1477-?) người xã Thạch Lỗi huyện Thạch Hà (nay thuộc huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Hiến sát sứ.
27. Nguyễn Tự (1472-?) người xã Vĩnh Mộ huyện Sơn Vi (nay thuộc huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ). Ông làm quan Hàn lâm viện sự.
28. Đoàn Nhân Thục (?-?) người xã Nghĩa Đô huyện Từ Liêm (nay thuộc Nghĩa Đô huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông làm quan đến Hiến sát sứ.
29. Bùi Dục Tài (?-?) người xã Câu Nhi (theo Ô châu cận lục) huyện Hải Lăng (nay thuộc huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị). Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm Hiệu lý, Tham chính đạo Thanh Hoa, Tả Thị lang Bộ Lại, Tham tướng. Khi ông trở về kinh lý ở xứ Thuận Hoá bị gian đảng sát hại.
30. Lê Nhân Tế (1480-?) người xã Đại Nhuệ huyện Hoằng Hóa (nay thuộc xã Hoằng Thắng huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Đông các Hiệu thư. Có sách ông là Lê Nhậm Tế.
31. Phạm Khiêm Bính (?-?) người xã Lãm Sơn huyện Quế Dương (nay thuộc xã Nam Sơn huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Hộ, Thượng thư Bộ Lễ kiêm Đô Ngự sử. Khi Mạc Đăng Dung lên nắm quyền, phải ra yết kiến, bị truất xuống làm Hữu Thị lang Bộ Hộ.
32. Nguyễn Văn Kiệt (?-?) người xã Mỹ Xá (có sách ghi là Nghĩa Xá) huyện Ngự Thiên (nay thuộc xã Trần Phú huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Thiêm Đô Ngự sử.
33. Nguyễn Duy Minh (?-?) người xã Thượng Cốc huyện Gia Lộc (nay thuộc xã Gia Khánh huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Tham chính.
34. Nguyễn Kim (?-?) người xã Thạch Lựu huyện An Lão (nay thuộc xã An Thái huyện An Lão Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Hiến sát sứ. Sau khi mất, ông được tặng Hữu Thị lang.
35. Doãn Mậu Khôi (?-?) người xã Yên Duyên huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Tô Hiệu huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Thời Lê ông được cử đi sứ (năm 1507) nhà Minh (Trung Quốc). Sau, ông làm quan triều Mạc đến chức Thượng thư kiêm Chưởng Hàn lâm viện, tước Tường An hầu.
36. Nguyễn Tử Trọng (1485-?) người xã An Ấp huyện Hương Sơn (nay thuộc xã Sơn Thịnh huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Đô Ngự sử.
37. Chử Thiên Khải (?-?) người xã Cối Giang huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Mai Lâm huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Tham chính. Khi mất, ông được tặng Hữu Thị lang Bộ Hộ và tước Tường Sơn bá.
38. Lê Dực (?-?) người xã Bối Khê (có sách ghi là Đại Định) huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Tam Hưng huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư.
39. Đỗ Văn Hiệu (?-?) người xã Hữu Quang huyện Yên Sơn (nay thuộc huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Cấp sự trung. Đời Lê sơ và đời Mạc chưa có tên huyện Yên Sơn, huyện này là huyện Ninh Sơn. Đến đời Trang Tông Lê Duy Ninh, do kiêng huý mới đổi Ninh Sơn thành Yên Sơn. Bia này ghi xã Hữu Quang huyện Yên Sơn, cho thấy chữ Ninh đã bị đục sửa thành chữ Yên vào đời sau.
40 Hoàng Tử Nghi (?-?) người xã Công Luận huyện Văn Giang (nay thuộc xã Đồng Than huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
41. Nguyễn Văn Hiến (1468-?) người xã Yên Dũng huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Tiến Dũng huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang). Ông làm quan Hiến sát sứ.
42. Đinh Trinh (?-?) người xã Vị Khê huyện Thanh Lan (nay thuộc xã Thái Phúc huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình). Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Hộ, Thượng thư Bộ Lễ, tước Thanh Xuyên bá và được cử đi sứ (năm 1507) sang nhà Minh (Trung Quốc).
43. Đào Như Hổ (?-?) người xã Triều Đông huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Tân Ninh huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan đến Tham chính.
44. Hoàng Nhạc (1478-?) người xã Hoàng Xá huyện Đông Thành (nay thuộc xã Diễn Cát huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An). Ông giữ các chức quan, như Giám sát Ngự sử, Hữu Thị lang và từng cử đi sứ Chiêm Thành.
45. Vũ Nghi Hướng (1481-?) người xã Đại Vi huyện Tiên Du (nay thuộc xã Đại Đồng huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thừa chính sứ.
46. Bùi Tân (?-?) người xã Kim Bảng huyện Thiên Bản (nay thuộc xã Kim Thái huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định). Ông làm quan đến Hữu Thị lang Bộ Hình.
47. Lê Kim Chương (1481-?) người xã Thanh Mai huyện Yên Phong (nay thuộc xã Vạn Thắng huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thừa chính sứ. (Bia ghi tên huyện là Yên Phong, có lẽ khi khắc lại bia hoặc đục sửa bị nhầm, đúng tên huyện của xã này là Tân Phong, sau đổi là Tiên Phong, nay thuộc huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây).
48. Nguyễn Thế Mỹ (?-?) người xã Lang Khuê (có tài liệu ghi là Lang Trụ) huyện Tiên Lữ (nay thuộc huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Thừa chính sứ.
49. Đào Trọng Hưng (?-?) người xã Đại Đồng huyện Siêu Loại (nay là xã Đại Đồng huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
50. Bùi Doãn Chính (1470-?) người xã Thắng Trí huyện Bình Tuyền (nay thuộc Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Thừa chính sứ.
51. Phạm Tráng (?-?) người xã Dũng Nhuệ huyện Giao Thủy (nay thuộc xã Xuân Hồng huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định). Ông làm quan đến Hữu Thị lang Bộ Hộ.
52. Trần Lư (?-?) người xã Bình Vọng huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Bạch Đằng huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Hiến sát sứ.
53. Phan Đình Mục (1474-?) người phường Tây Hồ huyện Quảng Đức (nay thuộc phường Trúc Bạch quận Ba Đình Tp. Hà Nội). Ông làm quan đến Hữu Thị lang.
54. Nguyễn Xuân Lan (1470-?) người xã Thời Mại huyện Bảo Lộc (nay thuộc huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
55. Trần Huyên (?-?) người xã Diên An (có tài liệu ghi là An Cảo) huyện Kim Động (nay thuộc xã Ngọc Thanh huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Đô Ngự sử.
56. Lê Hiếu Trung (?-1522) người xã Chi Nê huyện Chương Đức (nay thuộc xã Trung Hòa huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan, như Giám sát Ngự sử, Tư nghiệp Quốc tử giám và được cử đi sứ (năm 1507) tạ ơn sách phong của nhà Minh (Trung Quốc). Khi xảy ra vụ phản biến, Trịnh Tuy bắt vua Quang Thiệu đưa về Thanh Hóa. Ông bất khuất tự sát.
57. Nguyễn Đoan (1473-?) người phường Thụy Chương huyện Quảng Đức (nay thuộc phường Thụỵ Khê quận Ba Đình Tp.Hà Nội). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ. Có tài liệu ghi ông là Lâm Đoan .
58. Lê Đình Tưởng (1474-?) người xã Cao Mật huyện Kim Bảng (nay thuộc xã Lê Hồ huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam). Ông làm quanPhó Đô Ngự sử.
59. Đào Thúc Viện (1472-?) người xã Song Khê huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Song Khê huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang). Ông làm quan đến Hàn lâm Ký lục Liên sự.
60. Nguyễn Văn Đệ (1472-?) người xã Yên Nhân huyện Chương Đức (nay thuộc xã Hòa Chính huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây). Ông làm quan đến Thượng thư Bộ Lễ.
61. Vũ Bá Huyên (?-?) người xã Tùng Du huyện Gia Phúc (nay thuộc huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
62. Mạc Văn Uy (?-?) người xã Mặc Xá huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Minh Tân huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hiến sát sứ. Có tài liệu ghi ông là Mạc Văn Thành.
63. Nguyễn Tử Kiến (1477-?) người xã Trạch Lôi huyện Thạch Thất (nay thuộc xã Trạch Mỹ Lộc huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư.
64. Nguyễn Mậu (?-?) người xã Du La huyện Thanh Hà (nay thuộc xã Cẩm Chế huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Thời Lê, ông giữ chức Ngự sử đài Đô Ngự sử. Sau làm quan triều Mạc, thăng đến chức Thượng thư, Văn minh điện Đại học sĩ, tước Lễ Quận công và từng hai lần đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
65. Bia này có 2 dòng ghi thời gian: ở trên đã ghi bia dựng ngày 10 tháng 11 niên hiệu Cảnh Thống 5 (1502), nhưng có thể năm ấy chỉ mới viết bài ký mà chưa thực sự khắc chữ và khắc bia. Mãi đến đầu triều Mạc mới đem bài ký đã viết trước ra khắc chữ và khắc bia như đã ghi ở dòng cuối bia. Như vậy, những chú thích về các tên huyện bị sai, chứng tỏ bia này đã khắc lại hoặc đục sửa địa danh vào đời sau.
Tử Hà
04-20-09, 10:19:55 PM
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA TÂN MÙI NIÊN HIỆU HỒNG THUẬN NĂM THỨ 3 (1511)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_808.jpg
Trời mở vận trung hưng, năm đúng kỳ mở khoa thi lớn. Mùa xuân năm Tân Mùi niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 (1511), Bộ Lễ kính theo lệ cũ, triệu tập sĩ tử tới kinh đô để đua tài, chọn được hạng ưu tú 47 người. Ngày 17 tháng 4, Hoàng thượng1 đích thân ra bài văn sách, hỏi về đạo trị nước xưa nay. Sai Đề điệu là Suy trung Tán trị Minh kính Khiêm cung công thần Đặc tiến Khai phủ Kim tử Vinh lộc đại phu Bình chương quân Quốc trọng sự Thống quốc chính Thái tể Thái sư Thiệu quốc công thượng trụ quốc Lê Quảng Độ, Phụng trực đại phu Công bộ Thượng thư Tư chính Thượng khanh Trình Chí Sâm; Giám thí là Gia hạnh đại phu Hộ bộ Tả Thị lang Khuông nghĩa doãn Phạm Hạo, Tả Thị lang Bộ Lại Triều liệt đại phu Tu thận doãn Đặng Minh Khiêm cùng các quan hữu ty chia giữ các việc.
Sáng hôm sau, các viên đọc quyển là Phụng trực đại phu Lễ bộ Thượng thư Tư chính Thượng khanh Nguyễn Bá Nhậm, Phụng trực đại phu Thượng thư Ngự sử đài Đô Ngự sử Tư chính thượng khanh Nguyễn Thì Ung, Phụng trực đại phu Thượng thư Đông các Đại học sĩ Nhập thị Kinh diên Tư chính Thượng khanh Đỗ Nhạc dâng quyển lên đọc. Hoàng thượng đích thân xem xét, định thứ bậc cao thấp. Lấy bọn Hoàng Nghĩa Phú 3 người đỗ Tiến sĩ cập đệ, bọn Bùi Doãn Hiệp 9 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Trần Doãn Minh 35 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân.
Ngày mồng 4 tháng 5, Hoàng thượngngự điện Kính Thiên, cho truyền loa xướng tên người thi đỗ, trăm quan mặc triều phục chúc mừng. Bộ Lại vâng ban ơn mệnh, Bộ Lễ vâng rước bảng vàng treo ở ngoài cửa nhà Thái học. Lại ban áo mũ cân đai cho các vị tân khoa, ban ơn cho dự yến tiệc, lễ đãi hiền đầy đủ cả lễ nhạc.
Đặc sai Dương vũ Hiệp mưu Đồng đức Hiệu trung khai quốc công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Tán lý Hiệp thuận Khai phủ Nghi đồng Tam ty Bình chương quân Quốc trọng sự Phụ quốc Thừa tướng Thượng tể Thái phó Nghĩa quốc công Thượng trụ quốc Nguyễn Văn Lang sửa lại trường Quốc học, cất nhà bia mới ở phía đông và tây. Lại sai Tá lý công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Công bộ Thượng thư Chưởng lục bộ Sự tri Hiển Phúc điện Uy Quận công Thượng trụ quốc Nguyễn Bá Lân trông coi việc dựng bia đề tên, sai từ thần soạn bài ký. Thần kính cẩn cúi đầu rập đầu dâng lời rằng:
Trời đất sinh thành muôn vật ắt phải nhờ có bốn mùa để thành công. Đế vương muốn yên định muôn phương ắt phải tìm người hiền giúp trị. Cho nên nhà Ngu do không bỏ sót người hiền ở đồng quê mà tới mức thái bình thịnh trị. Nhà Chu có cảnh vui vẻ khang ninh là nhờ trong triều có nhiều hiền tài. Đến các đời Hán, Đường, Tống vua nào muốn có trị bình, ắt phải coi việc dùng hiền kén sĩ làm việc đầu tiên.
Kính nghĩ thánh triều:
Thái Tổ Cao hoàng đế dùng võ công dẹp yên thiên hạ, lấy văn giáo dấy nền thái bình, bắt đầu lập Quốc học mà văn giáo từ đây ngày càng mới.
Thái Tông Văn hoàng đế nối tiếp nghiệp lớn, sửa sang điển chế, bắt đầu mở khoa thi mà văn minh càng thêm rực rỡ.
Nhân Tông Tuyên hoàng đế kính theo mưu lược của tiên đế, tuân giữ điển chương chế độ, nuôi dưỡng dự bị sẵn người tài, Nho phong phấn phát.
Thánh Tông Thuần hoàng đế chỉnh đốn mối giềng, sửa sang trị bình giáo hóa, chuộng văn trọng đạo, học vấn cao minh, chăm lo tác thành người tài tuấn, các bậc chân Nho nối nhau xuất hiện.
Hiến Tông Duệ hoàng đế giữ cơ nghiệp sẵn thành, mở mang cội nguồn giáo hóa, lựa dùng hiền tài, nhân tài chen vai cùng tiến.
Kính nghĩ hoàng đế bệ hạ ứng vận hội, trời thuận người theo, vỗ yên chúng dân trong nước, tới trường giảng đạo, chuộng mến nho phong, bắt đầu từ khoa Tân Mùi là khoa thứ nhất trong đời Trung hưng2. Nghĩ hiền tài là nguyên khí của quốc gia, phải chăm lo bồi đắp; khoa mục là điển chương của thánh triều, phải chấn hưng trước hết. Kẻ hào kiệt thường vẫn từ con đường ấy mà tiến thân. Nhà Đường được Phòng [Huyền] Linh mà đạt được nền thái bình đời Trinh Quán. Nhà Tống được Hàn Kỳ mà đặt thiên hạ vào thế yên như Thái Sơn. Trải qua các đời nhờ khoa mục thu dụng được nhân tài mà giúp ích cho nền trị đạo, quan hệ lớn lao như thế.
Lòng thánh đế lo xa, đã có sẵn quy hoạch, đối với những người thi đỗ trong bảng này đặc cách ban khen bạt dụng, đều bổ cho giữ các chức ở Hàn lâm viện và các chức khoa đài ở các bộ, ơn huệ rất dày, chế độ rất đủ. Đăng khoa thì có sách chép, đề danh thì có bia là cốt để lưu tiếng thơm trong sử sách, làm rạng rỡ sự nghiệp đến muôn đời.
Kẻ sĩ ở đời được ghi tên vào tấm đá này thực may mắn biết bao! Nếu quả thật biết dồi mài trung nghĩa, cố gắng liêm cần để có tiếng là vị Trạng nguyên trung hiếu, là bậc quân tử ngọc vàng, thì mai sau các học trò nhà Thái học sẽ chỉ vào tên mà nói: Vị này vào hàng khoa bảng, vị này là bậc hiền tài, người hiền lương biết vậy mà lấy làm khích lệ. Thảng như có kẻ ngoài ngọc trong đá, bề ngoài như chim phượng mà tiếng kêu như cú diều, dua nịnh giống phường dựa cột, hèn nhát như lũ bó tay, thiên hạ đời sau sẽ chê cười nói: kẻ ấy tà học như hạng Công Tôn Hoằng, kẻ kia phản lại kinh sách cũng như Vương An Thạch, kẻ gian ác thấy đấy mà tự lấy làm răn. Được như thế thì tấm bia này dựng lên, trong chỗ ngợi khen còn có ngụ ý khuyên răn nữa.
Rực rỡ lớn lao thay quy mô chọn dùng hiền tài của liệt thánh. Kế thừa cao cả thay mực thước chọn dùng hiền tài của Thánh thượng ngày nay. Đó là vì muốn cho trời đất sinh hiền tài mà lập tâm, vì muốn nước nhà sử dụng được hiền tài mà lập pháp; và vì có ý mở ra cuộc thái bình muôn nghìn đời cho thiên hạ vậy.
Thần kính cẩn làm bài ký.
Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thiếu bảo Thượng thư Bộ Lễ, Đông các Đại học sĩ kiêm Quốc tử giám Tế tửu Tri Kinh diên sự Đôn Thư bá trụ quốc Lê Tung3 vâng sắc soạn.
Triều liệt đại phu Trung thư giám Trung thư xá nhân Tu thận doãn Ngô Ninh vâng viết chữ (chân).
Lễ bộ Tả Thị lang hành Kim quang môn Đãi chiếu Tri Thượng bảo giám các cục sự Nguyễn Huệ vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng ngày 15 tháng 3 niên hiệu Hồng Thuận thứ 5 (1513).
Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:
HOÀNG NGHĨA PHÚ 黃義富4 người huyện Chương Đức phủ Ứng Thiên.
TRẦN BẢO TÍN5 người huyện Nghi Xuân phủ Đức Quang.
VŨ DUY CHU 武維周6 người huyện Sơn Minh phủ Ứng Thiên.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 9 người:
BÙI DOÃN HIỆP 裴允協7 người huyện Phù Vân phủ Thường Tín.
NGUYỄN HY TÁI 阮熙載8 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
LÊ TƯ 黎鼒9 người huyện Đường An phủ Thượng Hồng.
NGUYỄN DUY TƯỜNG 阮維祥10 người huyện Yên Lãng phủ Tam Đới.
MAI BANG 梅邦11 người huyện Quế Dương phủ Từ Sơn.
ĐÀO KHẮC CẦN 陶克勤12 người huyện Thủy Đường phủ Kinh Môn.
PHAN CHÍNH NGHỊ 潘正誼13 người huyện Nghi Xuân phủ Đức Quang.
PHẠM VĨNH TOÁN 范永算14 người huyện Gia Phúc phủ Hạ Hồng.
NGUYỄN DỰC 阮翌15 người huyện Tiên Du phủ Từ Sơn.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 35 người:
TRẦN DOÃN MINH 陳允明16 người huyện Bình Hà.
LÊ BÁ KHANG 黎伯康17 người huyện Đông Sơn phủ Thiệu Thiên.
THÁI KÍNH 蔡敬18 người huyện Thiên Lộc phủ Đức Quang.
TRẦN BÍCH HOÀNH 陳璧宏19 người huyện Duy Tiênphủ Lị Nhân.
NGÔ SĨ KIỆN 吳士健20 người huyện Thanh Trìphủ Thường Tín.
ĐÀO XUÂN VI 陶春圍21 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
DƯƠNG KHẢI 楊楷22 người huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn.
ĐÀM SÂM 譚森23 người huyện Văn Lãngphủ Tam Đới.
NGUYỄN Ý 阮懿24 người huyện Giao Thuỷ phủ Thiên Trường.
KIỀU VĂN BÁ 喬文伯25 người huyện Phúc Lộc phủ Quốc Oai.
NGUYỄN QUANG 阮珖26 người huyện Tiên Du phủ Từ Sơn.
NGUYỄN THÌ KHẮC 阮時克27 người huyện Lập Thạch phủ Tam Đới.
NGỌ CƯƠNG TRUNG 午剛中28 người huyện Yên Phúphủ Từ Sơn.
TRẦN VIẾT THỨ 陳曰恕29 người huyện Thạch Hà phủ Hà Hoa.
NGUYỄN HỮU QUAN 阮有官30 người huyện Lương Tài phủ Thuận An.
NGUYỄN HUYỄN 阮鉉31 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.
NGUYỄN VÔ ĐỊCH 阮無敵32 người huyện Gia Định phủ Thuận An.
NGUYỄN BẠT TỤY 阮拔萃33 người huyện Lương Tài phủ Thuận An.
NGÔ ĐĨNH TRỰC 吳挺直34 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
PHẠM NGUYÊN 范元35 người huyện Đường An phủ Thượng Hồng.
TẠ ĐÌNH HUY 謝廷暉36 người huyện Duy Tiên phủ Lị Nhân.
LA THẾ NGHIỆP 羅世業37 người huyện Thuần Hựu phủ Hà Trung.
ĐÀO TRUNG HÒA 陶中和38 người huyện Lương Tài phủ Thuận An.
ĐOÀN VĂN THÔNG 段文通39 người huyện Quảng Đức phủ Phụng Thiên.
NGUYỄN THÁI HOA 阮泰華40 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.
QUÁCH THU ƯNG 郭秋鷹41 người huyện Tiên Lữ phủ Khoái Châu.
NGUYỄN TUỆ 阮鏏42 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.
NGUYỄN MẬU THUẬT 阮懋述43 người huyện Chí Linh phủ Nam Sách.
NGUYỄN THU 阮秋44 người huyện Thiện Tàiphủ Thuận An.
LÊ VÔ CƯƠNG 黎無疆45 người huyện Yên Lãng phủ Tam Đới.
NGUYỄN VĂN ĐÀM 阮文談46 người huyện Kim Thành phủ Kinh Môn.
VŨ PHI HỔ 武非虎47 người huyện Hoành Bồ phủ Hải Đông.
LƯƠNG ĐỨC MẬU 梁德懋48 người huyện Đường Hào phủ Thượng Hồng.
NGUYỄN MẠO 阮瑁49 người huyện Kim Bảng phủ Lị Nhân.
NGUYỄN KIỀU 阮嶠50 người huyện Đông Yên phủ Khoái Châu.
Chú thích:
1. Chỉ vua Lê Tương Dực, niên hiệu Hồng Thuận (1509-1516).
2. Chỉ sự kiện Lê Oanh, con của Cẩm Giang vương Lê Sùng đem quân từ Thanh Hóa về Thăng Long lật đổ Lê Uy Mục (1505-1509). Vì Uy Mục là kẻ tàn bạo vô đạo giết hại cả bà nội, chú ruột và các anh em. Sử ghi cuộc chính biến này là cuộc Trung hưng đời Hồng Thuận.
3. Lê Tung (1452-1514), nguyên họ tên là Dương Bang Bản , quê xã An Cư huyện Thanh Liêm (nay thuộc huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam). Ông thi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484) năm 33 tuổi. Sau khi thi đỗ được vua ban quốc tính họ Lê và đặt tên là Tung. Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Lễ, Thiếu bảo Đông các Đại học sĩ, kiêm Quốc tử giám Tế tửu, tước Đôn Thư bá và từng được cử đi sứ.
4. Hoàng Nghĩa Phú (1840-?) nguyên quán xã Mạc Xá huyện Chương Đức (nay thuộc huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây), trú quán xã Đan Khê huyện Thanh Oai (nay thuộc huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tham tri Chính sự kiêm Đô Ngự sử.
5. Trần Bảo Tín (1483-?) người xã Khải Mông huyện Nghi Xuân (nay thuộc huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lại. Khi nhà Mạc lấy ngôi nhà Lê, ông ẩn ở tại núi Hành Sơn rồi mất. Nhà Lê Trung hưng, truy tặng ông chức Thượng thư và được phong phúc thần.
6. Vũ Duy Chu (1484-?) người xã Tu Lễ huyện Sơn Minh (nay thuộc huyện Ứng Hoà tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang.
7. Bùi Doãn Hiệp (?-?) người xã Đào Xá huyện Phù Vân (nay thuộc huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Đô Ngự sử.
8. Nguyễn Hy Tái (?-?) người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Đoán sự.
9. Lê Tư (?-?) người làng Mộ Trạch huyện Đường An (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Đoán sự.
10. Nguyễn Duy Tường (?-?) người xã Lý Hải huyện Yên Lãng (nay thuộc xã Phú Xuân thị xã Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Tham chính. Khi mất, ông được tặng chức Thị lang và phong phúc thần.
11. Mai Bang (1482-?) người xã Đào Tai huyện Quế Dương (nay thuộc xã Đào Viên huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hàn lâm. Có tài liệu ghi ông là Đỗ Bang.
12. Đào Khắc Cần (1477-?) người xã Mai Đồng huyện Thủy Đường (nay thuộc xã Liên Khê huyện Thủy Nguyên Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Hàn lâm.
13. Phan Chính Nghị (1476-?) người xã Phan Xá huyện Nghi Xuân (nay là thuộc xã Tiên Điền huyện Nghi Xuân tỉnh Nghệ An). Ông làm quan Đô Ngự sử. Khi Mạc Đăng Dung chiếm ngôi nhà Lê, ông tử nạn. Sau triều Lê Trung hưng, phong ông làm phúc thần.
14. Phạm Vĩnh Toán (1488-?) người xã Hoa Xá huyện Gia Phúc (nay thuộc huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Thượng thư, tước hầu. Sau khi mất, ông được thăng Quận công.
15. Nguyễn Dực (1476-?) người xã Nội Duệ huyện Tiên Du (nay là xã Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan đến chức Giám sát, có tài liệu ghi làm đến Hàn lâm Hiệu lý.
16. Trần Doãn Minh (?-?) người xã Lan Khê huyện Bình Hà (nay thuộc xã Việt Hồng huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Khoa trước, năm 1508 ông đi thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ, nhưng vì không đỗ hạng cập bị (Tam khôi) nên ông không nhận. Khoa thi này, ông cũng chỉ đỗ Tiến sĩ và làm quan Thượng thư, tước Văn An bá. Ông được cử đi sứ hai lần.
17. Lê Bá Khang (?-?) người xã Phủ Lý huyện Đông Sơn (nay thuộc xã Thiệu Trung huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan đến Tham chính.
18. Thái Kính (1479-?) người xã Kiệt Thạch huyện Thiên Lộc (nay thuộc xã Thanh Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh), trú quán xã Đậu Liên cùng huyện. Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Hình.
19. Trần Bích Hoành (1470-?) người xã Điền Khê huyện Duy Tiên (nay thuộc huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam). Ông làm quan Giám sát Ngự sử. Có tài liệu ghi ông là Trần Hoành Bích. Huyện Duy Tiên, đời Lê sơ tên là Duy Tân, thành lập và đặt tên vào năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đời Lê Thánh Tông. Đến Lê Trung hưng từ năm Hoằng Định thứ 1 (1601), vì kiêng huý Kính Tông Lê Duy Tân, nên đổi là huyện Duy Tiên.
20. Ngô Sĩ Kiện (?-?) người xã Cổ Điển huyện Thanh Đàm (nay thuộc xã Tứ Hiệp huyện Thanh Trì, Tp. Hà Nội). Ông làm quan Hiến sát sứ.
21. Đào Xuân Vi (?-?) người xã Lạc Thực huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Đồng Lạc huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Tự khanh.
22. Dương Khải (?-?) người huyện Vũ Ninh (nay thuộc huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông là người chống lại nhà Mạc và bị bắt. Sau trốn vào Thanh Hóa, làm quan nhà Lê đến Thừa chính sứ Quảng Nam.
23. Đàm Sâm (?-?) người xã Xa Kệ huyện Văn Lãng (nay thuộc xã Văn Lãng huyện Đồng Hỉ tỉnh Bắc Thái). Ông làm quan Thượng thư. Tên huyện đúng phải là Yên Lãng, có thể do bia mờ khi khắc lại đã nhầm Yên thành Văn .Vì đời vua Lê Thánh Tông, khi định bản đồ toàn quốc (năm 1469) đặt huyện Yên Lãng thuộc phủ Tam Đái.
24. Nguyễn Ý (1485-?) người xã Thư Nhi huyện Giao Thủy (nay thuộc huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định). Ông làm quan Tự khanh. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Xác , có lẽ nhầm vì hai chữ này tự dạng hơi giống nhau.
25. Kiều Văn Bá (1479-?) người xã Đông Ma huyện Phúc Lộc (nay thuộc huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Phủ doãn phủ Phụng Thiên.
26. Nguyễn Quang (1475-?) người xã Lũng Sơn huyện Tiên Du (nay thuộc huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng thư.
27. Nguyễn Thì Khắc (?-?) người xã Lũng Tuyền huyện Lập Thạch (nay thuộc huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Hộ. Sau làm quan với nhà Mạc.
28. Ngọ Cương Trung (?-?) người xã Xuân Lôi huyện Yên Phong (nay thuộc xã Tam Giang huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan đến Giám sát Ngự sử. Khi nhà Lê mất, không theo Mạc và tiết nghĩa.
29. Nguyễn Viết Thứ (1487-1556) người xã Phất Não huyện Thạch Hà (nay thuộc xã Thạch Bình huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Đô Cấp sự trung. Khi nhà Lê mất, ông không chịu theo nhà Mạc và tiết nghĩa.
30. Nguyễn Hữu Quan (?-?) người xã Văn Xá huyện Lương Tài (nay thuộc xã Phú Hòa huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan đến Tự khanh.
31. Nguyễn Huyễn (?-?) người xã Kim Bài huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Kim An huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thừa chính sứ.
32. Nguyễn Vô Địch (?-?) người xã Ngô Cương huyện Gia Định (nay thuộc xã Nhân Thắng huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
33. Nguyễn Bạt Tụy (1485-?) người xã Phá Lãng huyện Lương Tài (nay thuộc xã Phá Lãng huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Khoa trước, năm 1508, ông đi thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, nhưng ông không nhận và khoa này đi thi lại, nhưng vẫn chỉ đỗ hàng Tam giáp. Ông làm quan nhà Mạc, giữ các chức quan, như Thượng thư, Thái bảo, tước Quận công và từng hai lần được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
34. Ngô Đĩnh Trực (?-?) người làng Đình Bảng huyện Đông Ngàn (nay là xã Đình Bảng huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hàn lâm viện Kiểm thảo. Khi mất, ông được tặng chức Tả Thị lang.
35. Phạm Nguyên (?-?) người xã Triền Đông huyện Đường An (nay thuộc xã Cẩm Chế huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đếnPhó Đô Ngự sử.
36. Tạ Đình Huy (1474-?) người xã Hồng Khê huyện Duy Tân (nay thuộc xã Yên Nam huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam). Ông làm quan Cấp sự trung.
37. La Thế Nghiệp (1485-?) người xã Lục Trúc huyện Thuần Hựu (nay thuộc huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Hiến sát sứ.
38. Đào Trung Hòa (1462-?) người xã Lai Xá huyện Lương Tài (nay thuộc xã Phú Lương huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Tổng binh. Sau khi mất, ông được phong phúc thần.
39. Đoàn Văn Thông (?-?) người huyện Quảng Đức (nay thuộc phường Đồng Xuân quận Hoàn Kiếm Tp. Hà Nội), trú quán xã Lương Xá huyện Lương Tài (nay thuộc xã Phú Lương huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Lễ.
40. Nguyễn Thái Hoa (?-?) người xã Kim Độ huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Nam Chính huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương), trú quán xã Đại Dục cùng huyện. Ông làm quan Đình uý.
41. Quách Thu Ưng (?-?) người xã Phượng Tường huyện Tiên Lữ (nay thuộc xã Nhật Tân huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan đến Thừa chính sứ.
42. Nguyễn Tuệ (?-?) người xã Kim Bài huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Kim An huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan thời nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước bá.
43. Nguyễn Mậu Thuật (1478-?) người xã Yên Ninh huyện Chí Linh (nay thuộc huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Thừa chính sứ. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Mậu Đạt .
44. Nguyễn Thu (1488-?) người xã Lai Xá huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Phú Lương huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông ra làm quan thời nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước bá. Huyện Thiện Tài, đời Mạc đổi là huyện Lương Tài.
45. Lê Vô Cương (1481-1526) người xã Thiên Biều huyện Yên Lãng (nay thuộc xã Kim Chung huyện Đông Anh TP. Hà Nội). Ông làm quan Thị Lang. Khi xẩy ra cuộc biến loạn Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, ông đang giữ chức Hữu Thị lang Bộ Lễ và không chịu khuất phục nên bị giết.
46. Nguyễn Văn Đàm (?-?) người xã Chiêu Độ huyện Kim Thành (nay thuộc huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Hàn lâm.
47. Vũ Phi Hổ (?-?) người xã Dư Xá huyện Hoành Bồ (nay thuộc huyện Hoành Bồ tỉnh Quảng Ninh). Ông từng làm quanPhó Đô Ngự sử.
48. Lương Đức Mậu (?-?) người xã Phù Vệ huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan đến Hàn Lâm.
49. Nguyễn Mạo (?-?) người xã Bất Đoạt huyện Kim Bảng (nay thuộc xã Châu Sơn huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
50. Nguyễn Kiều (?-?) người xã Lưu Xá huyện Đông Yên (nay thuộc xã Nghĩa Dân huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan đến Cấp sự trung.
Tử Hà
04-20-09, 10:23:06 PM
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA QUÝ MÙI NIÊN HIỆU HỒNG THUẬN NĂM THỨ 6 (1514)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_807.jpg
Niên hiệu Hồng Thuận thứ 6, rồng bay năm Giáp Tuất, gặp lúc mở khoa thi, sĩ tử bốn phương gặp nhau ở chốn xuân vi để đua tài nghệ đông đến 5.700 người. Qua bốn trường chọn được hạng trúng cách 43 người. Ngày 27 tháng 4 cho gọi vào Điện thí. Hoàng thượng sai Tá lý Hiệp mưu Kính thận Trinh ý công thần Đặc tiến Khai phủ Kim tử Vinh lộc đại phu Tả Bình chương quân Quốc trọng sự Nhập nội Kiểm hiệu Thượng tướng Thái uý Lượng quốc công Thượng trụ quốc Lê Phụ, Phụng trực đại phu Lại bộ Thượng thư Tri Chiêu văn quán Tú lâm cục Tư chính Thượng khanh Đàm Thận Huy, Gia hạnh đại phu Công bộ Hữu Thị lang Khuông mỹ doãn Lê Tán Tương, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thiếu bảo Lễ bộ Thượng thư Đông các Đại học sĩ kiêm Quốc tử giám Tế tửu tri kinh diên sự Đôn Thư bá trụ quốc Lê Tung, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Lễ bộ Thượng thư Lễ bá Trụ quốc Nguyễn Bá Thuyên, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Hộ bộ Thượng thư Tri Chiêu văn quán Tú lâm cục Cẩn Lễ nam Chính trị Thượng khanh Đoàn Mậu, Quang nghiệp đại phu Thượng thư Đông các Đại học sĩ Nhập thi Kinh diên Chính trị khanh Đỗ Nhạc chia giữ các việc. Khi dâng quyển lên đọc, Hoàng thượng đích thân xem xét, định thứ tự cao thấp. Ban cho bọn Nguyễn Đức Lượng đỗ Tiến sĩ cập đệ, bọn Nguyễn Vũ đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Nguyễn Bỉnh Di đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân. Thứ tự ban ơn nhất nhất đều theo lệ cũ. Bộ Lễ xin khắc đá dựng bia ở nhà Thái học để truyền lâu dài. Nhưng trong nước gặp lúc tai ách1, dấy việc binh đao, đường sá đi lại không thông, nên việc dựng đá đề danh chưa kịp làm. Hoàng thượng cả dấy nghĩa quân khôi phục cơ đồ, ngay khi vừa dẹp tan giặc trở về kinh đô liền sai quan Bộ Công khắc đá, giao cho thần soạn bài ký. Thần kính vâng lời ngọc, kính cẩn cúi đầu rập đầu chúc mừng cho nền tư văn và các sĩ tử, không dám viện cớ vụng về nông cạn chối từ.
Kính nghĩ: Trời đất đối với muôn vật phú cho nguyên khí vận chuyển bốn mùa để hoàn thành công hóa dục. Đế vương đối với muôn dân, thực nhờ các bề tôi tài giỏi chia giữ các chức mà đạt tới cuộc thái bình thịnh trị. Trên từ Nhị đế (Nghiêu, Thuấn), Tam vương (Hạ, Thương, Chu), dưới đến cuộc hưng thịnh của các triều Hán, Đường, Triệu, Tống không triều nào không coi việc sử dụng nhân tài là việc cấp bách. Nhưng lề lối đào tạo tuyển chọn, cách thức khích lệ biểu dương chưa đời nào có được quy mô to rộng, khuôn phép tốt đẹp rõ ràng đầy đủ như các bậc liệt thánh triều ta.
Kính nghĩ: Hoàng thượng hoàn thành sự nghiệp trung hưng, lập công làm rạng rỡ các đời trước. Thánh học tinh thông, thấm nhuần nguồn đạo, cổ vũ giáo hoá văn trị cách tân. Mùa xuân năm Mậu Dần, Hoàng thượng đích thân ngự ở hiên điện ra đề thi cho sĩ tử. Mùa hạ năm Canh Thìn lại đặt ân khoa để lấy hiền tài. Đến năm Tân Tị lại cho dựng đá đề danh người thi đỗ khoa Giáp Tuất để bổ sung thiếu sót và để kịp thời biểu dương khuyến khích. Đó chẳng phải là thịnh ý sùng Nho của Hoàng thượng hay sao!
Vả lại các Tiến sĩ thi đỗ khoa này tuỳ theo tài năng đã được bổ dụng, phục vụ tại các bộ viện, hoặc theo hầu hạ trong cơn hoạn nạn, hoặc giúp sách lược đánh dẹp, hoặc giúp sửa sang chính sự, soạn thảo giấy tờ, tiết tháo tài năng đại thể đã tỏ rõ. Nay lại được ơn vua tô điểm, lòng cảm kích phải như thế nào cho xứng đáng? Ắt phải đem lòng trung chính phụng thờ, ắt phải trọn đời lo nghĩ đền đáp. Trước lo phận sự, sau mới tới tài năng; trước phải trau dồi khí tiết, sau mới tới tài nghệ; trước phải nên đức hạnh, sau mới tới văn chương. Hãy làm mây lành sao tỏ nêu điềm tốt cho đời, làm ngọc sáng vàng ròng để làm của báu cho nước, làm giáo làm gươm để dẹp trừ tiếm loạn, làm bậc tiên giác như cây kỷ cây tử để vững chắc rường cột. Hoặc làm lúa làm gạo, làm vải lụa để giúp dân nghèo, hoặc làm sâm linh kỳ truật để bồi bổ khí mạch quốc gia, khiến cho cuộc trị bình của nước nhà bước lên chốn vẻ vang tươi sáng, đặt thiên hạ vào thế yên như núi Thái Sơn, ngõ hầu trên không phụ thánh đức biểu dương, dưới không phụ với sở học ngày thường. Được thế thì công danh sự nghiệp này sẽ cùng bia đá kia không mục. Nếu không được như vậy thì hiền hay không hiền, trung hay tà, phải trái nên hư phân biệt rõ ràng, ngọc có vết không thể che đậy. Người đời sẽ chỉ vào tên mà bàn tán, công luận thật nghiêm xét, há chẳng đáng sợ lắm sao?
Thần dám lấy đó làm lời răn các sĩ tử được đề danh, cũng là để tự răn mình và để soi sáng cho người đời sau khi xem bia đá này.
Trinh ý công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thiếu bảo Lại bộ Thượng thư Đông các Đại học sĩ Nhập thị Kinh diên Chính trị Thượng khanh Vũ Duệ vâng sắc soạn.
Trung trinh đại phu Trung thư giám Điển thư Khuông mỹ Thiếu doãn Chu Đình Bảo vâng sắc viết chữ (chân).
Thông chương đại phu Kim quang môn Đãi chiếu Tư chính khanh Phạm Đức Mạo vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng ngày 17 tháng 4 niên hiệu Quang Thiệu thứ 6 (1521).
Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:
NGUYỄN ĐỨC LƯỢNG 阮德亮2 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.
NGUYỄN CHIÊU HUẤN 阮昭訓3 người huyện Yên Phú phủ Từ Sơn.
HOÀNG MINH TÁ 黃明佐4 người huyện Cẩm Giàng phủ Thượng Hồng.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 20 người:
NGUYỄN VŨ 阮瑀5 người huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai.
NGUYỄN TỰ CƯỜNG 阮自強6 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
PHẠM CHÍNH NGHỊ 范正毅7 người huyện Lương Tài phủ Thuận An.
ĐOÀN QUẢNG PHU 段廣敷8 người huyện Đường An phủ Thượng Hồng.
NGUYỄN NGUYÊN TÁN 阮元贊9 người huyện Thanh Lan phủ Tân Hưng.
PHẠM THỌ CHẤT 范壽質10 người huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.
NGUYỄN ĐÔN CUNG 阮敦恭11 người huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.
NGUYỄN ĐỐC TÍN 阮篤信12 người huyện An Lão phủ Kinh Môn.
NGÔ TÒNG CỦ 吳從矩13 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
NGUYỄN TRỌNG HIỆU 阮仲效14 người huyện Siêu Loại phủ Thuận An.
NGUYỄN VĂN KIỆT 阮文傑15 người huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.
LẠI GIA PHÚC 賴嘉福16 người huyện Phúc Yên phủ An Bình.
NGUYỄN DOÃN KHÂM 阮允欽17 người huyện Phụ Dực phủ Thái Bình.
CHỬ SƯ ĐỔNG 褚師董18 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.
HÀ CẢNH ĐẠO 何景道19 người huyện Siêu Loại phủ Thuận An.
ĐỖ CẢNH 杜景20 người huyện Phụ Dực phủ Thái Bình.
NGUYỄN CHÍNH TUÂN 阮政恂21 người huyện Sơn Vi phủ Lâm Thao.
NGUYỄN ĐẠM 阮澹22 người huyện Gia Phúc phủ Hạ Hồng.
LÊ THỜI BẬT 黎時弼23 người huyện Nghi Dương phủ Kinh Môn.
TRỊNH BÁ 鄭霸24Ứngười huyện Phú Lương phủ Phú Bình.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 20 người:
NGUYỄN BỈNH DI 阮秉彝25 người huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.
NGUYỄN DOÃN TUY 阮允綏26 người huyện Đan Phượng phủ Quốc Oai.
ĐỖ VĂN NGUYÊN 杜文沅27 người huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai.
NGUYỄN CHUYÊN MỸ 阮專美28 người huyện An Lão phủ Kinh Môn.
PHẠM LÂN ĐỊNH 范麟定29 người huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai.
NGUYỄN BỈNH ĐỨC 阮秉德30 người huyện Quảng Đức phủ Phụng Thiên.
BÙI CÔNG PHỤ 裴公輔31 người huyện Kim Hoa phủ Bắc Hà.
PHẠM MINH DU 范明猷32 người châu Tân An phủ Hải Đông.
VŨ QUANG TÚC 武光肅33 người huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn.
NGUYỄN ĐIỂN KÍNH 范典敬34 người huyện Lương Tài phủ Thuận An.
PHẠM KÍNH TRUNG 范敬忠35 người huyện Lương Tài phủ Thuận An.
PHAN DOÃN THÔNG 潘允聰36 người huyện Bạch Hạc phủ Tam Đới.
LÊ DUY LƯƠNG 黎維良37 người huyện Gia Phúc phủ Hạ Hồng.
VŨ HỮU NGHIÊM 武有嚴38 người huyện Gia Lâm phủ Thuận An.
ĐOÀN SƯ ĐỨC 段師德39 người huyện Lương Tài phủ Thuận An.
NGUYỄN CẢNH QUYNH 阮景駉40 người huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn.
NGUYỄN CHÂU MẠO 阮珠瑁41 người huyện Yên Lãng phủ Tam Đới.
NGUYỄN KÍNH HOÀ 阮敬和42 người huyện Thanh Đàm phủ Thường Tín.
NGUYỄN HANH GIA 阮亨嘉43 người huyện Vĩnh Xương phủ Phụng Thiên.
TRẦN VIÊN 陳員44 người huyện Chương Đức phủ Ứng Thiên.
Chú thích:
1. Chỉ cuộc biến loạn của Lê Uy Mục.
2. Nguyễn Đức Lượng (1465-?) người xã Canh Hoạch huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Dân Hòa huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lễ. Sau khi mất, ông được tặng Thượng thư.
3. Nguyễn Chiêu Huấn (?-?) người xã Yên Phong huyện Yên Phong (nay thuộc xã Vạn An huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng thư và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
4. Hoàng Minh Tá (?-?) người xã Hoàng Xá huyện Cẩm Giàng (nay thuộc xã Cẩm Điền huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thừa chính sứ. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Minh Tá.
5. Nguyễn Vũ (1457-1516) người xã Thiên Mỗ huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Đại Mỗ huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông giữ các chức quan, như Tả Thị lang Bộ Binh, Thượng thư Bộ Hình kiêm Bảo Thiên điện Đại học sĩ, Hàn lâm Thừa chỉ, Nhập thị Kinh diên.
6. Nguyễn Tự Cường (?-?) người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hiến sát sứ. Khi Mạc Đăng Dung chiếm ngôi nhà Lê, ông dấy binh chống cự rồi thua trận bị bắt, uống thuốc độc tự tử. Sau nhà Lê Trung hưng phong làm phúc thần.
7. Phạm Chính Nghị (1486-?) người xã Hoa Cầu huyện Lang Tài (nay thuộc xã An Thịnh huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước Văn Trường bá.
8. Đoàn Quảng Phu (?-?)người xã Hoa Đường huyện Đường An (nay thuộc xã Thúc Kháng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Đông các Đại học sĩ. Có tài liệu ghi ông là Đoàn Đức Phu.
9. Nguyễn Nguyên Tán (?-?) người xã Biền Hàn huyện Thanh Lan (nay thuộc xã Thái Hưng huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Đông các.
10. Phạm Thọ Chất (?-?) người xã Cao La huyện Tứ Kỳ (nay thuộc xã Dân Chủ huyện Tứ Kì tỉnh Hải Dương). Ông làm quan với nhà Mạc đến chức Thượng thư.
11. Nguyễn Đôn Cung (?-?) người xã Lỗi Dương huyện Tứ Kỳ (nay thuộc huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Ngự sử, tước bá.
12. Nguyễn Đốc Tín (?-?) người xã Thạch Lựu huyện Yên Lão (nay thuộc xã An Thái huyện An Lão Tp. Hải Phòng). Ông làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước hầu.
13. Ngô Tòng Củ (?-?) người xã Hà Vĩ huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Liên Hà huyện Đông Anh, Tp. Hà Nội). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lễ.
14. Nguyễn Trọng Hiệu (1486-1559) người xã Đại Đồng huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Đại Đồng Thành huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan nhà Lê đến chức Thượng thư, tước bá. Sau ông ra làm quan cho nhà Mạc, giữ các chức Hàn lâm viện, Quốc tử giám Tế tửu, tước hầu.
15. Nguyễn Văn Kiệt (?-?) người xã An Lao huyện Tứ Kỳ (nay thuộc xã An Thanh huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
16. Lại Gia Phúc (?-?) người xã Mỹ Xá huyện Đông Yên (nay thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Thị lang.
17. Nguyễn Doãn Khâm (?-?) người làng Địa Linh huyện Phụ Dực (nay thuộc xã An Bài huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Lại bộ Tả Thị lang. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Khắc Khâm.
18. Chử Sư Đổng (?-?) người xã Hội Phụ huyện Đông Ngàn (nay là thuộc xã Đông Hội huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thượng thư.
19. Hà Cảnh Đạo (1491-?) người xã Đạo Tú huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Song Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư kiêm Đô Ngự sử, tước Sùng Lễ bá.
20. Đỗ Cảnh (?-?) người làng An Bài huyện Phụ Dực (nay thuộc xã An Bài huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Thị lang.
21. Nguyễn Chính Tuân (?-?) người xã Xuân Lũng huyện Sơn Vi (nay thuộc xã Xuân Lũng huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ). Ông giữ các chức quan, như Đoán sự, Thượng thư, tước Ngọc Quận công. Khi nhà Mạc tiếm ngôi, ông giữ phẩm tiết. Sau triều Lê Trung hưng tôn ông là bậc tiết nghĩa. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Sĩ Tuân.
22. Nguyễn Đạm (?-?) người xã Đoàn Lâm huyện Gia Phúc (nay thuộc xã Thanh Tùng huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương), trú quán xã Hoa Bằng (nay cùng huyện). Ông làm quan Thừa chính sứ.
23. Lê Thời Bật (?-?) người xã Lê Xá huyện Nghi Dương (nay thuộc xã Tú Sơn huyện Kiến Thụy Tp. Hải Phòng). Ông làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước Văn Uyên hầu.
24. Trịnh Bá (?-?) người xã Cù Đàm huyện Phú Lương (nay thuộc huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Binh. Có tài liệu ghi ông người xã Lệ Trạch.
25. Nguyễn Bỉnh Di (?-?) người xã Ô Mễ huyện Tứ Kỳ (nay thuộc xã Hưng Đạo huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Binh.
26. Nguyễn Doãn Tuy (?-?) người xã Khánh Hiệp huyện Đan Phượng (nay thuộc thôn Thượng Hiệp xã Tam Hiệp huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Cấp sự trung. Khi vua Chiêu Tông chạy vào Thanh Hóa, ông không đi theo. Đến khi Chiêu Tông lấy lại được kinh đô, ông vào yết kiến, vua sai lực sĩ đem chém.
27. Đỗ Văn Nguyên (1486-?) người xã Mễ Trì huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Mễ Trì huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội), trú quán xã Quả Hối (nay là xã Mỹ Đình huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thị lang. Có tài liệu ghi ông là Đỗ Văn Hãng.
28. Nguyễn Chuyên Mỹ (?-?) người xã Thạch Lựu huyện Yên Lão (nay thuộc xã An Thái huyện An Lão Tp. Hải Phòng). Ông làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước Văn Đẩu hầu.
29. Phạm Lân Định (1484-?) người xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thừa chính sứ.
30. Nguyễn Bỉnh Đức (?-?) người phường Thịnh Quang huyện Quảng Đức (nay thuộc phường Thịnh Quang quận Đống Đa Tp. Hà Nội), trú quán xã Hương Canh huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Xuân Phương huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, Thiếu phó kiêm Đông các, tước Liêm Quận công và được ban họ Mạc.
31. Bùi Công Phụ (?-?) người xã Đồng Lạc huyện Kim Hoa (nay thuộc xã Tiên Dược huyện Sóc Sơn Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thượng thư.
32. Phạm Minh Du (1491-?) người xã Cẩm Hà huyện An Lão (nay thuộc huyện An Hải Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Thừa chính sứ. Có tài liệu ghi ông người xã Cẩm Bồ huyện Tiên Minh (nay thuộc huyện Tiên Lãng Tp. Hải Phòng).
33. Vũ Quang Túc (?-?) người xã Vĩ Vũ huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Vũ Ninh thị xã Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan với nhà Mạc đến Thượng thư, tước Dục Lễ hầu. Ông nguyên tên là Vũ Tuân .
34. Nguyễn Điển Kính (?-?) người xã Đào Xá huyện Lang Tài (nay thuộc xã Trung Chính huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan với nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước Văn Ninh hầu và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Có tài liệu ghi ông là Phạm Điển Kính.
35. Phạm Kính Trung (?-?) người xã Lai Xá huyện Lương Tài (nay thuộc xã Phú Lương huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan nhà Mạc đến Đại lý tự khanh, tước hầu.
36. Phan Doãn Thông (?-?) người xã Kiên Cương huyện Bạch Hạc (nay thuộc xã Ngũ Kiên huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Hữu Thị lang.
37. Lê Duy Lương (?-?) người xã Cẩm Đới huyện Trường Tân (nay thuộc xã Thống Nhất huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Thượng thư, tước bá.
38. Vũ Hữu Nghiêm (?-?) người xã Cửu Cao huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Cửu Cao huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.
39. Đoàn Sư Đức (?-?) người xã Văn Xá huyện Lương Tài (nay thuộc xã Phú Hòa huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan nhà Mạc, đến chức Thượng thư, tước Hà Văn hầu và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
40. Nguyễn Cảnh Quynh (?-?) người xã Vụ Nông huyện Giáp Sơn (nay thuộc xã Đại Bản huyện An Hải Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Hàn lâm viện Kiểm thảo.
41. Nguyễn Châu Mạo (1490-?) người xã Khê Ngoại huyện Yên Lãng (nay thuộc xã Văn Khê huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Đô Ngự sử.
42. Nguyễn Kính Hoà (1485-?) người xã Diên Trường huyện Thanh Đàm (nay thuộc huyện Thanh Trì Tp. Hà Nội). Ông làm quan Đô Cấp sự trung.
43. Nguyễn Hanh Gia (?-?) người phường Đông Các huyện Vĩnh Xương (nay thuộc quận Ba Đình Tp. Hà Nội). Ông làm quan Hàn lâm viện Kiểm thảo.
44. Trần Viên (?-?) người xã Nhật Cốc huyện Chương Đức (nay thuộc huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây), trú quán xã Thượng Cát huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Kim Bài huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang.
Tử Hà
04-20-09, 10:23:46 PM
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA MẬU DẦN NIÊN HIỆU QUANG THIỆU NĂM THỨ 3 (1518)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_806.jpg
Đặt khoa thi chọn kẻ sĩ là quy chế đã lập thành của các bậc đế vương mưu đồ nền trí trị, trọng dụng người hiền không hạn chế là đạo trung dung xưa nay không thay đổi.
Thần thường nhân câu nói đó mà suy rộng ra: đảm nhiệm quốc chính của nhà Hạ đều là các quan cũ của nhà Ngu, chọn vào vương đình của nhà Thương đều là liêu thuộc của nhà Hạ, phụ tế ở kinh đô nhà Chu lại là sĩ phu của nhà Ân, kẻ đứng hàng tể phụ triều Tống cũng là cựu thần của nhà Hậu Chu. Có lẽ vì phép chọn học trò bắt đầu từ thời Ngu, Chu, thịnh hành ở đời Triệu Tống, còn đạo trung dung trọng dùng người hiền không hạn chế cách nào thì xưa đã có mà cũng thấy cả ở ngày nay chăng?
Kính nghĩ thánh triều quang minh mở vận, thánh thánh nối truyền. Thánh thiên tử sùng Nho trọng đạo, sửa sang trường học để nuôi dưỡng nhân tài. Chế độ đổi mới, quy mô rộng lớn lâu dài. Đặc sai hữu ti kiểm tra các bia đề danh Tiến sĩ các khoa của triều trước hễ khoa nào đã có bia mà bị vỡ hỏng thì cho dựng lại bia khác, khoa nào chưa có bia mà đáng ghi thì dựng thêm. Lại sai từ thần chia nhau soạn các bài ký. Làm như thế là để coi trọng những điều mà nền tư văn đáng trọng, làm cho đủ những việc mà đời trước chưa làm, ý nghĩa thật rất to lớn.
Thần tham dự triều chính, việc đáng phải cầm bút. Thần kính xét: Triều trước khai khoa năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442), sau đó hoặc 6 năm, hoặc 5 năm mở một khoa, chưa thành định lệ. Từ khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4 (1463) trở đi mới định 3 năm mở một khoa. Cũng theo Hội điển của nhà Minh lấy các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu mở khoa thi Hương, lấy các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi mở khoa thi Hội. Riêng về năm Mậu Dần niên hiệu Quang Thiệu thứ 3 (1518) có khoa thi là vì năm thứ 2 Đinh Sửu (1517) là năm đáng phải mở thi Hội, nhưng bấy giờ trong nước có biến1 nên đến năm Mậu Dần mới cử hành được. Bảng này chọn được kẻ sĩ 17 người: Đệ nhất giáp là bọn Ngô Miễn Thiệu 3 người được ban Tiến sĩ cập đệ, Đệ nhị giáp 6 người là bọn Lại Kim Bảng được ban Tiến sĩ xuất thân, Đệ tam giáp 8 người là bọn Nguyễn Độ được ban đồng Tiến sĩ xuất thân. Những người này hiện đang giữ các chức quan, dần dần còn được dùng vào việc lớn, hoặc tham dự việc lễ, nhạc, binh, hình, hoặc giữ các ti chuyên trách việc kỷ cương tai mắt của triều đình, có người kiêm chức ở quán các giúp việc cất nhắc thuyên chuyển, hoặc giữ các chức đô đài, gián nghị, có người tham gia chính sự lớn ở một địa phương, có người giữ chức hiến ti ở ngoại đài. Những người đỗ Tiến sĩ khoa này, từ sau khi được đề tên ở bảng vàng đến nay đã hai chục năm mới được đề danh vào bia đá. Nhờ ơn vua được tô điểm vẻ vang, được khích lệ long trọng như vậy, phải nên báo đáp thế nào? Ắt phải cùng nhau gắng sức, giữ lòng tận trung, lau cạo thật sáng, trau dồi tiết hạnh để cho khí khái lỗi lạc, tiếng tăm vang lừng, làm viên ngọc vẹn toàn, làm nén vàng mười, làm viên đan sa rất mực quý báu, làm vẻ vang vương độ, giữ vững cơ đồ hoàng gia, đặt thiên hạ vào chốn yên vững như Thái Sơn bàn thạch. Được như thế thì tấm đá này, những tên tuổi này khác nào muôn cân nặng, càng lâu càng không mòn vậy. Nếu không được như thế thì ngoài ngọc trong đá, danh và thực không xứng nhau, người đời sau sẽ chỉ vào tấm đá này mà chê trách. Vì sao vậy? Vì danh là khách của thực, thực là chủ của danh, có danh có thực thì thực còn mà danh vì thế được coi trọng; có danh không có thực, thì thực chẳng còn mà danh cũng vì thế mà bị coi khinh. Thần xin lấy mấy điều ấy khuyên răn những người được đề tên và cũng để tự răn mình. Còn quan tước tên họ các quan Đề điệu, Độc quyển, Giám thí thì kê ở mặt sau bia.
Thần kính cẩn làm bài ký.
Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thượng thư Bộ Lễ kiêm Đông các Đại học sĩ Đạo Xuyên bá Trụ quốc Nguyễn Trí Thái2 vâng sắc soạn.
Thông chương đại phu Trung thư giám Chính tự Tư chính khanh họ Vũ vâng sắc viết chữ (chân).
Thông chương đại phu kim quang môn đãi chiếu tư chính khanh họ Nguyễn vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng ngày 5 tháng giêng niên hiệu Đại Chính thứ 7 (1536).
Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:
NGÔ MIỄN THIỆU 吳勉紹3 người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn.
NGUYỄN MẪN ĐỐC 阮敏篤4 người xã Xuân Lũng huyện Sơn Vi.
LƯU KHẢI CHUYÊN 劉啟顓5 người xã An Đê huyện Đường An.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 6 người:
LẠI KIM BẢNG 賴金榜6 người xã Kim Lan huyện Cẩm Giàng.
ĐẶNG ẤT 鄧乙7 người xã Phúc Hải huyện Ngự Thiên.
NGUYỄN CHẤN CHI 阮振之8 người xã Thổ Hoàng huyện Thiên Thi.
NGUYỄN HỒNG TIỆM 阮鴻漸9 người xã Đồng Xá huyện Thanh Lâm.
NGHIÊM VĂN HẬU 嚴文厚10 người xã Hà Lỗ huyện Đông Ngàn.
LÊ VÔ ĐỊCH 黎無敵11 người xã Thiên Biểu huyện Yên Lãng.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 8 người:
NGUYỄN ĐỘ 阮度12 người xã Phù Vệ huyện Đường Hào.
NGUYỄN CƯ NHÂN 阮居仁13 người xã Ông Lâu huyện Lương Tài.
NGUYỄN CỦNG 阮鞏14 người xã Hoàng Đôi huyện Văn Giang.
ĐỖ DƯƠNG 杜洋15 người xã Quang Bị huyện Gia Lộc.
VƯƠNG HOÀNH 王浤16 người xã Ngô Đạo huyện Tân Phúc.
NGUYỄN HÒA TRUNG 阮和衷17 người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn.
NGỌ DOÃN TRÙ 午尹儔18 người xã Bắc Lý huyện Yên Việt.
NGUYỄN TẢO 阮藻19 người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn.
Chú thích:
1. Chỉ các việc biến loạn ở kinh thành đầu đời Chiêu Tông.
2. Nguyễn Trí Thái: Xem chú thích 6, Bia số 10.
3. Ngô Miễn Thiệu (1499-?) người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn (nay là xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Thời Lê, ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Lại kiêm Đô Ngự sử, Chưởng Hàn lâm viện sự, Nhập thị Kinh diên và tước Lý Khê bá. Sau ông làm quan với nhà Mạc, giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Lễ, Đông các Đại học sĩ, Ngự sử đài Đô Ngự sử, Hàn lâm viện Thị thư và thăng Trình Khê hầu.
4. Nguyễn Mẫn Đốc (1492-?) người xã Xuân Lũng huyện Sơn Vi (nay là xã Xuân Lũng huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ), nguyên quán xã Đông Viên huyện Tứ Kỳ (nay thuộc huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư, theo vua Lê Chiêu Tông vào Thanh Hoa, tuẫn tiết, được phong phúc thần.
5. Lưu Khải Chuyên (?-?) người xã An Đê huyện Đường An (nay thuộc huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Hình.
6. Lại Kim Bảng (?-?) người xã Kim Lan huyện Cẩm Giàng (nay thuộc xã Kim Giang huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương). Đời Lê, ông làm quan Đô Ngự sử. Khi Mạc Đăng Dung sắp ngôi nhà Lê, ông lánh về quê, sau bị Đăng Dung cưỡng ép mời gọi. Khi qua giữa sông Nhị, ông mũ áo chỉnh tề, bài vọng về Lam Sơn, lớn tiếng chửi Đăng Dung rồi gieo mình xuống sông tự vẫn. Triều Lê Trung hưng truy tặng chức Tả Thị lang Bộ Lễ, tước Quận công và tôn vào bậc Tiết nghĩa.
7. Đặng Ất (1495-?) người xã Phúc Hải huyện Ngự Thiên (nay thuộc xã Phạm Lễ huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Giám sát Ngự sử. Bia Văn Miếu tỉnh Hưng Yên ghi ông người xã Hải Triều huyện Hưng Nhân.
8. Nguyễn Chấn Chi (?-?) người xã Thổ Hoàng huyện Thiên Thi (nay thuộc thị trấn huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan đến Thiêm đô Ngự sử. Sau khi mất, ông được tặng Tả Thị lang Bộ Lễ.
9. Nguyễn Hồng Tiệm (?-?) người xã Đồng Xá huyện Thanh Lâm (nay thuộc huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Tả Thị lang Bộ Hình. Có tài liệu ghi ông người xã Đồng Nẫm.
10. Nghiêm Văn Hậu (?-?) người xã Hà Lỗ huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Liên Hà huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan đến Tham chính.
11. Lê Vô Địch (?-?) người xã Thiên Biều huyện Yên Lãng (nay là thuộc xã Kim Chung huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Hộ khoa Đô Cấp sự trung.
12. Nguyễn Độ (1493-?) người xã Phù Vệ huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước bá.
13. Nguyễn Cư Nhân (?-?) người xã Ông Lâu huyện Lương Tài (nay thuộc xã Phú Lương huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, Chưởng Hàn lâm viện sự, tước Đạm Hà bá.
14. Nguyễn Củng (?-?) người xã Hoàng Đôi huyện Tế Giang (nay thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan nhà Mạc đến chức Thị lang.
15. Đỗ Dương (?-?) người xã Quang Bị huyện Gia Lộc (nay thuộc xã Phạm Trấn huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương. Ông làm quan Tham chính.
16. Vương Hoành (?-?) người xã Ngô Đạo huyện Tân Phong (nay thuộc xã Tân Hưng huyện Sóc Sơn Tp. Hà Nội). Ông làm quan với nhà Mạc đến chức Thị lang.
17. Nguyễn Hoà Trung (?-?) người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn (nay là xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Tả Thị lang.
18. Ngọ Doãn Trù (?-?) người xã Bắc Lý huyện Yên Việt (nay thuộc xã Bắc Lý huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang). Ông làm quan Đoán sự. Có tài liệu ghi ông người xã Ngọ Xá và tên là Hứa Doãn Trù.
19. Nguyễn Tảo (?-?) người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn (nay là xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan nhà Mạc trải Thượng thư Lục bộ, rồi Thừa chính sứ Hải Dương.
Tử Hà
04-20-09, 10:24:27 PM
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA KỶ SỬU NIÊN HIỆU MINH ĐỨC NĂM THỨ 3 (1529)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_805.jpg
Hoàng thượng lên ngôi báu đã 3 năm, mở ra vận hội trời đất văn minh. Gặp năm mở khoa thi lớn, sĩ tử hát thơ Lộc minh tới kinh đô ứng thí đông đến 4.000 người, cùng nhau tranh đua tài nghệ chốn xuân vi, chọn được hạng xuất sắc 27 người.
Ngày 18 tháng 2, Hoàng thượng ngự ở hiên điện, đích thân ra đề văn sách hỏi về đạo trị nước. Sai Đề điệu là Thái bảo Diệm quốc công Mạc Kim Phiêu, Binh bộ Thượng thư Khánh Khê hầu Mạc Ninh Chỉ cùng các quan hữu ti chia giữ các việc.
Hôm sau quan Độc quyển là Lễ bộ Thượng thư Đông các Đại học sĩ Văn Đàm bá Nguyễn Thanh, Lại bộ Thượng thư Quốc tử giám Tế tửu Bỉnh Lễ bá Đinh Trinh dâng quyển đọc. Hoàng thượng xem xét, định thứ bậc cao thấp. Ban cho bọn Đỗ Tông 3 người đỗ Tiến sĩ cập đệ, bọn Nguyễn Vân Quang 8 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Nguyễn Hữu Hoán 16 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân.
Ngày 24, Hoàng thượng ngự điện Kính Thiên, sai gọi loa xướng tên người đỗ. Bộ Lại ban ân mệnh, bộ Lễ rước bảng vàng treo trước cửa nhà Thái học. Ngày hôm đó lại ban cho tiền bạc có thứ bậc khác nhau. Ngày 27 ban cân đai áo mũ nhiều hơn lệ thường. Ngày 28 ban yến tại Bộ Lễ. Ngày mồng 7 tháng 3 cho phép vinh qui, ban tiền theo thứ bậc khác nhau, ơn huệ thật nồng hậu. Hoàng thượng lại sai quan Bộ Công mài đá, từ thần soạn bài ký. Bọn thần kính vâng mệnh sáng, chúc mừng cho nền tư văn, cung kính cúi đầu rập đầu dâng lời rằng:
Khí chân nguyên hòa hợp thì hào kiệt xuất hiện trong thiên hạ, vua sáng tôi hiền gặp gỡ, cơ trời cảm ứng, há phải chuyện tình cờ. Nhưng kẻ sĩ hào kiệt do khoa mục tiến thân kể từ họ Hữu Ngu1 hỏi quan nhạc mục mà ý tốt mở khoa mục bắt đầu, đời Thành Chu cất nhắc nhân tài mà phép tốt khoa mục gây mầm từ đó. Từ đời Hán đến Đường, Tống cùng là các bậc anh minh của nước Việt ta đều lấy việc đó làm bậc thang cho hào kiệt tiến thân.
Kính nghĩ thánh triều: Thánh thiên tử 2 sẵn tư chất hơn đời, nắm vận hội lớn, đem võ công dẹp yên thiên hạ, phô bày văn giáo để đào tạo nhân tài, sửa sang trường học để rộng đường nuôi dưỡng vui vầy giáo hóa, ban học qui để chấn chỉnh tác thành, tô điểm nhân văn, đổi mới khoa mục. Phàm quy chế thi cử, ơn vinh ban thưởng theo thứ bậc, so với thủa xưa thực rõ ràng đầy đủ.
Kẻ sĩ được gặp gỡ vua thánh anh minh, gội nhuần giáo hóa, dự vào hạng anh hùng, bước vào đường vinh hiển, lại được nêu họ tên lâu dài trên bia đá, há chẳng vẻ vang may mắn lắm sao? Vậy nên mang đội ơn sâu, dốc lòng thực tiễn, lấy trung liêm dồi tiết cứng, lấy lễ nghĩa làm phép thường, giữ lòng thẳng thắn, chẳng lệch chẳng xiên, làm nên sự nghiệp lớn lao bền vững. Phải làm sao như Lã Văn Dương lấy chính đạo giữ mình mà giúp cuộc thịnh trị trong đời thái bình hữu đạo, như Hàn Ngụy Công áo mũ chầu vua mà thiên hạ yên như bàn thạch; khiến mọi người phải ca ngợi là vị Trạng nguyên chân chính, vị Tiến sĩ lừng danh. Được như thế trên không phụ thánh thiên tử cho đặt khoa thi, dưới không phụ với sở học thường ngày, thì công lao sự nghiệp vĩ đại quang minh sẽ làm rạng rỡ cho tấm đá này. Thảng hoặc có người ngoài vuông nhưng trong tròn, trước trinh trắng mà sau tì vết, điều nhìn thấy không đúng với điều được nghe, việc làm trái với sở học thì chỉ làm lụy cho khoa mục, làm tì vết cho bia đá này, há chẳng nên tự răn hay sao?
Than ôi! Lẽ trời ở trong lòng, hiện ra thì thấy rõ, thánh hóa ban tới người dân, lâu ngày tất cũng rõ rệt. Bia đá này dựng ở nhà Thái học, chẳng những để tỏ thành ý sùng Nho của Thánh thượng, nêu cao ý chuộng văn của triều đình trong buổi đầu mà còn khích lệ nhân tâm, bồi dưỡng sĩ khí để phù hợp với giáo hoá hiện nay cho đến vô cùng. Sau này các sĩ tử gặp nhau, mắt nhìn bia, miệng đọc bia, chẳng ai mà không cảm kích phấn khởi, lấy khoa mục để tự động viên mình thấy ơn sâu mà gắng sức, nối nhau xuất hiện mà giúp cuộc thái bình thịnh trị muôn thuở cho nước nhà, xây đắp xã tắc muôn năm được bền vững. Như thế thì bia đá này dựng lên, công dụng há phải chỉ là bổ ích nhỏ hay sao?
Đồng đức công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Lễ bộ Thượng thư Thái tử Thái bảo Đông các Đại học sĩ Thiếu bảo Thông Quận công thượng trụ quốc Nguyễn Thì Ung cùng Phụng trực đại phu Đông các Hiệu thư Tư chính Thượng khanh Nguyễn Cư Nhân3 vâng sắc soạn.
Thông chương đại phu Trung thư giám Chính tự Tư chính khanh Nguyễn Ngạn Chiêu vâng sắc viết chữ (chân).
Thông chương đại phu Kim quang môn Đãi chiếu Tư chính khanh Nguyễn Tấn vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng tiết đông chí, tháng trọng đông năm Kỷ Sửu4 niên hiệu Minh Đức thứ 3 (1529).
Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:
ĐỖ TỔNG杜綜5 người xã Lại c huyện Văn Giang.
NGUYỄN HÃNG阮沆6 người xã Vũ Lăng huyện Thượng Phúc.
NGUYỄN VĂN HUY阮文徽7 người xã Vĩnh Cầu huyện Đông Ngàn.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 8 người:
NGUYỄN VÂN QUANG 阮雲光8 người xã Bình Sơn huyện Đông Ngàn.
TRẦN THỤY 陳瑞9 người xã Ngọc Bộ huyện Thái Bình.
PHẠM HUY 范輝10 người xã Mặc Khê huyện Thanh Lâm.
ĐẶNG LƯƠNG TÁ 鄧良佐11 người xã Đặng Xá huyện Thạch Thất.
NGUYỄN HOẢNG 阮恍12 người xã Đức Thắng huyện Hiệp Hòa.
NGUYỄN DOÃN ĐỊCH 阮允迪13 người xã Hoàng Vân huyện Hiệp Hòa.
PHÍ THẠC 費碩14 người xã Hương Ngải huyện Thạch Thất.
NGUYỄN CHIÊU KHÁNH 阮昭慶15 người xã Yên Sở huyện Đan Phượng.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 16 người:
NGUYỄN HỮU HOÁN 阮有煥16 người xã Xuân Ứng huyện Quang Phúc.
NGUYỄN ĐỊCH GIÁO 阮迪教17xã Thượng Cốc huyện Gia Lộc.
LÊ THỰC 黎湜18xã Ngọc Bộ huyện Văn Giang.
HOÀNG KHẮC THẬN 黃克慎19xã Đại Lý huyện Thuần Lộc.
LÊ TẢO 黎藻20xã Phúc Khê huyện Từ Liêm.
NGUYỄN QUÝ LƯƠNG 阮貴良21 người xã Địa Linh huyện Phụ Dực.
NGUYỄN ĐỨC KÝ 阮德驥22 người xã Đan Nhiễm huyện Văn Giang.
AN KHÍ SỬ 安器使23 người xã Nhĩ Độ huyện Nam Xương.
VŨ NGUNG 武嵎24 người xã Đoàn Lâm huyện Gia Lộc.
CHU TAM DỊ 朱三異25 người xã Phù Lưu huyện Đông Ngàn.
PHAN TẾ 潘濟26 người xã Nguyễn Xá huyện Thạch Thất.
ĐINH THỤY 丁瑞27 người xã Tùng Quan huyện Đông Yên.
PHẠM KINH BANG 范經邦28 người xã Thì Trung huyện Thanh Oai.
LƯƠNG NHƯỢNG 梁讓29 người xã Nội Trà huyện Yên Phong.
NGUYỄN DƯƠNG 阮洋30 người xã Trà Lâm huyện Siêu Loại.
NGUYỄN QUANG TÁN 阮光贊31 người xã Vọng Nguyệt huyện Yên Phong.
Chú thích:
1. Họ Hữu Ngu: Chỉ vua Thuấn.
2. Chỉ Mạc Đăng Dung: Niên hiệu Minh Đức (1527-1529).
3. Nguyễn Cư Nhân thi đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Dần Quang Thiệu thứ 3 (1518) đời Lê Chiêu Tông. Xem chú thích 13, Bia số 13.
4.Đồ duy xích phấn, biệt danh của năm Kỷ Sửu.
5. Đỗ Tổng (1504-?) người xã Lại Ốc huyện Tế Giang (nay thuộc xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông giữ các chức quan, như Tả Thị lang Bộ Hình, Đông các Đại học sĩ.
6. Nguyễn Hãng (1488-?) nguyên quán xã Vũ Lăng huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Thắng Lợi huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây), trú quán xã Thắng Lãm (nay thuộc xã Phú Lương huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan, như Thị lang, Đông các Đại học sĩ.
7. Nguyễn Văn Huy (1486-?) người xã Vịnh Cầu huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đồng Nguyên huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lễ.
8. Nguyễn Vân Quang (1484-?) người xã Bình Sơn huyện Đông Ngàn (nay thuộc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Đô Cấp sự trung. Có tài liệu ghi ông tên là Nguyễn Quang Vân và nguyên quán xã Yên Trừ.
9. Trần Thụy (?-?) người xã Ngọc Bộ huyện Đại An (nay thuộc xã Yên Nhân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định). Ông làm quan Hàn lâm viện Hiệu thảo. (Có tài liệu ghi ông là Trần Nhụ).
10. Phạm Huy (?-?) người xã Mặc Khê huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Minh Tân huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Tham chính.
11. Đặng Lương Tá (?-?) người xã Đặng Xá huyện Thạch Thất (nay thuộc xã Bình Phú huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây). Ông làm quan đến Giám sát Ngự sử.
12. Nguyễn Hoảng (1490-?) người xã Đức Thắng huyện Hiệp Hòa (nay thuộc xã Đức Thắng huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang). Ông làm quan đến Tả Thị lang Bộ Hình, tước Đạm Khê bá.
13. Nguyễn Doãn Địch (1490-?) người xã Hoàng Vân huyện Hiệp Hòa (nay là xã Hoàng Vân huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lại kiêm Quốc tử giám Tế tửu, tước Mỹ Trai bá. Có tài liệu ghi ông người xã Hoàng Phỉ cùng huyện.
14. Phí Thạc (1508-1585) người xã Hương Ngải huyện Thạch Thất (nay là xã Hương Ngải huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hình, tước Phúc Thủy hầu. Sau khi mất, ông được tặng hàm Thiếu bảo.
15. Nguyễn Chiêu Khánh (1496-?) người xã Yên Sở huyện Đan Phượng (nay thuộc xã Yên Sở huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây. Ông làm quan đến Hàn lâm. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Chiêu Nghĩa và tài liệu khác lại ghi là Nguyễn Chiêu Độ.
16. Nguyễn Hữu Hoán (?-?) người xã Xuân Áng huyện Quang Phúc (chính là huyện Tân Phúc, sau đổi là Tiên Phúc, văn bia đã nhầm chữ Tiên thành chữ Quang ). Xã Xuân Áng đã chia làm 2 thôn, thôn Xuân Dục Đoài thuộc xã Phù Linh và thôn Xuân Dục Đông thuộc xã Tân Minh (nay đều thuộc huyện Sóc Sơn, Tp. Hà Nội). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
17. Nguyễn Địch Giáo (?-?) người xã Thượng Cốc huyện Trường Tân (nay thuộc xã Gia Khánh huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
18. Lê Thực (1494-?) người xã Ngọc Bộ huyện Tế Giang (nay thuộc xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Thị lang, tước Văn Hợp bá.
19. Hoàng Khắc Thận (1505-?) người xã Đại Lý huyện Thuần Lộc (nay thuộc xã Đại Lộc huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Lại bộ Thượng thư, tước Hoàng Trung hầu.
20. Lê Tảo (1501-?) người xã Phúc Khê huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Phú Minh huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội), trú quán xã Cổ Nhuế (nay là xã Cổ Nhuế cùng huyện). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lại, tước Hành Viễn bá. Sau khi mất, ông được tặng Thượng thư, tước công.
21. Nguyễn Quý Lương (?-?) người xã Địa Linh huyện Phụ Dực (nay thuộc xã An Bài huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Tham chính.
22. Nguyễn Đức Ký (1502-?) người xã Đan Nhiễm huyện Tế Giang (nay thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tổng binh phủ Cao Bằng, tước Đổng Sơn bá.
23. An Khí Sử (1506-?) người xã Nễ Độ huyện Nam Xương (nay thuộc huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam). Ông làm quan Thị lang. Có tài liệu ghi ông là Ngô Khí Sử.
24. Vũ Ngung (1508-?) người xã Đoàn Lâm huyện Gia Lộc (nay thuộc xã Thanh Tùng huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư, tước Trãi Sơn hầu. Khi mất, ông được tặng tước Quận công.
25. Chu Tam Dị (1494-?) người xã Phù Lưu huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hàn lâm viện Kiểm thảo. Có tài liệu ghi ông là Tống Tam Dị.
26. Phan Tế (1510-?) người xã Nguyễn Xá huyện Thạch Thất (nay thuộc xã Thạch Xá tỉnh Hà Tây), trú quán xã Nhật Xá huyện Duy Tiên (nay thuộc huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam). Ông làm quan đến Thừa chính sứ, tước nam.
27. Đinh Thụy (?-?) người xã Tùng Quan huyện Đông Yên (nay thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Hàn lâm viện Kiểm thảo. Có tài liệu ghi ông người xã Sài Quất hoặc Tử Quất.
28. Phạm Kinh Bang (?-?) người xã Thời Trung huyện Thanh Oai (nay thuộc huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
29. Lương Nhượng (1501-?) người xã Nội Trà huyện Yên Phong (nay thuộc huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Tham chính.
30. Nguyễn Dương (1504-?) người xã Trà Lâm huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Trí Quả huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông là em của Nguyễn Dần, ông nội Nguyễn Cổn và làm quan Tự khanh.
31. Nguyễn Quang Tán (1502-?) người xã Vọng Nguyệt huyện Yên Phong (nay thuộc xã Tam Giang huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
Tử Hà
04-20-09, 10:25:53 PM
VĂN BIA ĐỀ DANH CHẾ KHOA GIÁP DẦN NIÊN HIỆU THUẬN BÌNH NĂM THỨ 6 (1554)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_804.jpg
Đặt khoa thi chọn kẻ sĩ là quy chế đã lập thành của các bậc đế vương mưu đồ nền trí trị, trọng dụng người hiền không hạn chế bởi cách nào là đạo thường xưa nay không thay đổi.
Kính nghĩ: Thánh triều Trung Tông Vũ hoàng đế thông minh đức độ lớn, khoát đạt chí nhân, căm giận ngụy Mạc dám nghịch cương thường, luôn mong có được hiền thần để mở mang công nghiệp. Thực nhờ Thế tổ Minh Khang Thái vương kính giúp, phấn chí anh hùng, mưu lo khôi phục. Bấy giờ những dũng tướng nanh vuốt xông pha ở nơi tên đạn thì nhiều mà mưu thần tâm phúc giúp vận trù ở nơi màn trướng thì ít. Bèn vào năm Giáp Dần niên hiệu Thuận Bình thứ 6 bắt đầu đặt Chế khoa, đích thân ra đề thi văn sách hỏi về đạo trị nước xưa nay. Sai các quan Đề điệu, Tri Cống cử, Giám thí vâng mệnh khảo thí, trúng tuyển được 13 người, vâng mệnh dâng lên để Hoàng thượng ngự lãm, định thứ bậc cao thấp. Sắc ban cho bọn Đinh Bạt Tụy 5 người đỗ Đệ nhất giáp Chế khoa xuất thân, bọn Chu Quang Trứ 8 người đỗ Đệ nhị giáp đồng Chế khoa xuất thân. Cho dự yến tiệc và ban mũ áo, ơn vinh thật đầy đủ. Những người đỗ Chế khoa năm ấy vốn đều có tài kinh luân, cùng nhau đồng tâm hiệp lực, hiến kế vạch mưu, nhân tài nối nhau xuất hiện, dành dùng mấy đời cũng không hết.
Đến nay, Hoàng thượng nghĩ chu đáo vạn cơ, lo chỉnh tề mọi việc, chưa rỗi làm việc khác mà kíp lo việc cầu hiền, thu nạp nhân tài để mở nền trí trị. Thực nhờ1 [Đại nguyên súy Thống quốc chính Thượng phụ Thanh vương]2 mưu lo lập lại chính sự, mở mang pháp độ. Chuyên uỷ cho [Nguyên súy Chưởng quốc chính Tây Định vương]3 bên trong cai quản trăm quan, bên ngoài điều hoà bốn bể. Hiền sĩ như mây họp, cứ ba năm lại mở một khoa thi. Đời thịnh chọn được người ở khoa này là rất nhiều vậy.
Thánh thượng4 sâu nghĩ đến đức nghiệp danh vọng của các bậc tuấn kiệt thời trước, muốn dùng bia đá đề danh để truyền lại lâu dài. Đặc sai các từ thần ở Viện Hàn lâm soạn bài ký ghi sự việc. Bọn thần há dám không cúi đầu rập đầu mà dâng lời rằng:
Trời đất sinh nuôi muôn vật tất phải nhờ đến bốn mùa để thành công. Đế vương giữ yên muôn phương, tất phải nhờ đông đảo hiền tài giúp trị, mà muốn được người tuấn kiệt ắt phải chọn trong chốn khoa trường.
Kính nghĩ: Thái tổ Cao hoàng đế nhân thời mở vận, lấy đại nghĩa mà thi hành việc quân, lo giữ yên cho thiên hạ, thu phục các bậc anh hiền, gây thành nghiệp đế để truyền lại cho đời sau. Liệt thánh kế thừa chính thống.
Trung Tông Vũ hoàng đế khôi phục tạo lập cơ đồ lớn lao, tôn chuộng nho nhã, bèn mở khoa thi này, thật là khoa đệ nhất thời Trung hưng vậy.
Kế đến Anh Tông Tuấn hoàng đế, Thế tông Nghị hoàng đế tuân theo quy củ, lại lập Chế khoa. Kẻ sĩ hào kiệt đều do khoa này mà tiến lên, công khanh đại phu đều do đường ấy mà xuất hiện. Công danh sự nghiệp của những người đỗ Chế khoa thật lớn lao không thể ghi chép hết, đến nay những ai nghe biết đều không khỏi trạnh lòng tưởng nhớ ngưỡng mộ.
Những người có chức quan vẫn thường nghiền ngẫm trung nghĩa, dồi mài liêm cần, nguyện làm vị Trạng nguyên trung hiếu, làm bậc quân tử ngọc vàng, ngõ hầu không hổ thẹn với các bậc tu thân toàn mỹ đời trước. Thảng hoặc có kẻ ngoài ngọc trong đá, tiếng phượng hoàng mà lông diều hâu, làm kẻ gian tà hèn nhát, làm kẻ tầm thường a dua nịnh hót không biết hổ thẹn bởi sự chỉ trích chê bai của người đời sau.
Vậy thì tấm đá này dựng lên uy nghiêm suốt cả nghìn năm, công luận phải trái vẫn còn đó, há chẳng đáng sợ lắm thay!
Bọn thần kính cẩn làm bài ký.
Dực vận Tán trị công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Lễ bộ Thượng thư kiêm Hàn lâm viện Thị giảng Tham Chưởng Hàn lâm viện sự Bạt Quận công Thượng trụ quốc Dương Trí Trạch vâng sắc nhuận.
Hàn lâm viện Đãi chế Nguyễn Đăng Cảo5 vâng sắc soạn.
Trung thư giám Hoa văn học sinh quê xã Thái Lạc huyện Văn Giang là Đỗ Soạn vâng sắc viết chữ (chân).
Trung thư giám Hoa văn học sinh người phường Thịnh Quang huyện Quảng Đức là Đỗ Công Vị vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng ngày 16 tháng 11 niên hiệu Thịnh Đức thứ 1 (1653) Hoàng Việt.
Đệ nhất giáp Chế khoa xuất thân, 5 người:
ĐINH BẠT TỤY 丁拔萃6 người xã Bùi Khổng huyện Hưng Nguyên.
NGUYỄN VĂN NGHI 阮文沂7 người xã Ngọc Bôi huyện Đông Sơn.
NGUYỄN SƯ LỘ 阮師路8 người xã Bột Thái huyện Hoằng Hóa.
PHAN TẤT THÔNG 潘必通9 người xã Hạ Thành huyện Đông Thành.
ĐỖ DANH ĐẠI 杜名大10 người xã Cổ Đôi huyện Nông Cống.
Đệ nhị giáp đồng Chế khoa xuất thân, 8 người:
CHU QUANG TRỨ 朱光著11 người xã Nam Hoa Thượng huyện Thanh Chương.
NGUYỄN CHIÊU 阮昭12 người xã Yên Việt Thượng huyện La Sơn.
LÊ VĂN HIẾU 黎文孝13 người xã Châu Xuyết huyện Nông Cống.
BIỆN HOÀNH 卞鍧14 người xã Hoa Duệ huyện Kỳ Hoa.
NGUYỄN CÔNG DỰ 阮公譽15 người xã Văn Lâm huyện Quảng Xương.
VŨ HOÁN 武煥16 người xã Hồng Khê huyện Duy Tiên.
NGUYỄN SẰN 阮侁17 người xã Dịch Vọng huyện Từ Liêm.
NGUYỄN ĐỨC 阮德18 người xã Nỗ Bạn huyện Thanh Trì.
Chú thích:
1. Kể từ bia này trở đi, các bia soạn dựng vào đời Lê Trung hưng đều có những dòng kê tước hiệu của các chúa Trịnh. Sau này các vua triều Nguyễn không chấp nhận được những điều ghi trên đó, vì ngay trong tước hiệu mỹ tự đã bao hàm ý nghĩa đề cao công đức của các chúa Trịnh như "công cao thông đoán nhân thánh..." v.v...Vì thế, vào năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) vua sai truyền dụ cho các địa phương miền Bắc phàm đền chùa có bia, biển gỗ đề cao họ Trịnh thì phải “mài gọt đục đi, chớ để dấu tích lại” (Đại Nam thực lục, Chính biên. Bản dịch, Tập XXII, tr159). Lệnh này được thi hành triệt để đối với các bia Tiến sĩ đời Lê Trung hưng ở Văn miếu-Quốc tử giám Thăng Long như chúng ta đã thấy. Để tiện cho độc giả theo dõi văn bản, chúng tôi phải căn cứ vào tên tước, mỹ tự tương thích với thời gian sự việc, thời gian soạn dựng từng bia và các tư liệu khác để tham khảo, khôi phục rồi đặt vào trong ngoặc vuông [....]. Nhưng việc đục bia này chỉ đục các dòng liên quan đến các chúa Trịnh từ Trịnh Tráng về sau, vì kể từ khi Trịnh Tráng lần đầu tiên dẫn quân đi đánh Đàng Trong năm 1627 thì chính quyền hai họ Trịnh - Nguyễn mới chính thức đối địch, còn tước hiệu của Trịnh Kiểm (Minh Khang đại vương, Minh Khang thái vương) và Trịnh Tùng (Thành Tổ Triết vương) thì không bị đục.
2. Tước do vua Lê Thần Tông phong cho Trịnh Tráng năm 1629, lấy theo Trịnh gia chính phả do Trịnh Như Tấu biên soạn. Toàn thư ghi tước này có chênh mấy chữ: "Đại nguyên súy thống quốc chính sư phụ Thanh vương". Tháng 5-1657 khi Trịnh Tráng mất mới kèm thêm các mỹ tự "Đại nguyên súy thống quốc chính thượng chúa sư phụ công cao thông đoán nhân thánh Thanh vương". Đây là tấm bia Tiến sĩ Chế khoa đầu tiên đời Lê Trung hưng được soạn dựng năm 1653 tương ứng thời gian Trịnh Tráng đang nắm quyền cho nên chúng tôi khôi phục tên tước sinh thời của Trịnh Tráng.
3. Tước phong của Trịnh Tạc.
4. Chỉ vua Lê Thần Tông. Có 21 bia Tiến sĩ đời Lê Trung hưng đã được soạn dựng dưới thời Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng.
5. Nguyễn Đăng Cảo (1619-?) người xã Hoài Bão huyện Tiên Du (nay thuộc xã Liên Bão huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Ông 28 tuổi đỗ Hội nguyên, Đình nguyên, Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh (tức Thám hoa) niên hiệu Phúc Thái thứ 4 (1646) đời Lê Chân Tông, sau lại đỗ đầu khoa Đông các và làm quan Đông các Đại học sĩ (1659). Ông là anh của Nguyễn Đăng Ninh, bác của Nguyễn Đăng Tuân và Nguyễn Đăng Đạo. Ông được bổ chức Đông các Đại học sĩ, nhưng sau đó bị bãi chức, vì ông là người cương trực, không theo thói đời nên bị nhiều người ghen ghét, vì thế mà không được trọng dụng.
6. Đinh Bạt Tụy (1527-1600) người xã Bùi Khổng huyện Hưng Nguyên (nay thuộc xã Hưng Thắng huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An). Ông làm quan Thượng thư Bộ Binh, tước Khê Quận công, về trí sĩ.
7. Nguyễn Văn Nghi (1526-1595) người xã Ngọc Bôi huyện Đông Sơn (nay thuộc xã Đồng Thanh huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ, Nhập thị Kinh diên, tước bá. Sau khi mất, ông được tặng Thượng thư, Thái bảo, phong phúc thần.
8. Nguyễn Sư Lộ (1519 -?) người xã Bột Thái huyện Hoằng Hóa (nay thuộc xã Hoằng Vinh huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa). Ông là cha của Nguyễn Thứ, làm quan Lại khoa Đô Cấp sự trung.
9. Phan Tất Thông (1532-?) người xã Hạ Thành huyện Đông Thành (nay thuộc huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An). Ông là cháu nội của Phan Tất Hành, con Phan Tất Lượng, làm quan đến Đông Các, Thừa chính sứ.
10. Đỗ Danh Đại (1514-?) người xã Cổ Đôi huyện Nông Cống (nay thuộc xã Hoàng Giang huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa). Ông là em của Đỗ Phi Tán, cha Đỗ Tế Mỹ, làm quan Đông các Đại học sĩ, tước Văn Hoành bá. Có tài liệu ghi ông là Đỗ Tất Đại.
11. Chu Quang Trứ (1540-?) người xã Nam Hoa Thượng huyện Thanh Chương (nay thuộc xã Khánh Sơn huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
12. Nguyễn Chiêu (1524-?) người xã Yên Việt Thượng huyện La Sơn (nay thuộc huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Cấp sự trung.
13. Lê Văn Hiếu (1533-?) người xã Châu Xuyết huyện Nông Cống (nay thuộc xã Hoàng Sơn huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Hộ.
14. Biện Hoành (?-?) người xã Hoa Duệ huyện Kỳ Hoa (nay thuộc xã Cẩm Duệ huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Hiến sát sứ.
15. Nguyễn Công Dự (?-?) người xã Văn Lâm huyện Quảng Xương (nay thuộc địa phận xã Trường Lâm huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Hiến sát sứ Quảng Nam. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Lệnh Dự.
16. Vũ Hoán (?-?) người xã Hồng Khê huyện Duy Tiên (nay thuộc xã Yên Nam huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam). Ông làm quan Tham chính, tước nam.
17. Nguyễn Sằn (?-?) người xã Thượng Yên Quyết huyện Từ Liêm (nay thuộc Yên Hòa quận Cầu Giấy Tp. Hà Nội), nguyên quán xã Dịch Vọng (nay là phường Dịch Vọng quận Cầu Giấy Tp. Hà Nội). Ông từ Bắc tìm vào Thanh Hóa dự khoa thi của triều Lê Trung hưng, nhưng đến nơi thì thi đã đến trường thứ ba. Ông xin vào thi, làm luôn 4 bài thi của 4 trường, được lấy trúng cách. Người đương thời gọi ông là "Tiến sĩ năm ngày''. Ông làm quan Tham chính, vinh phong Kiệt tiết công thần.
18. Nguyễn Đức (1497-?) người xã Nỗ Bạn huyện Thanh Trì (nay thuộc xã Liên Phương huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hình.
Tử Hà
12-28-09, 10:31:28 PM
(http://javascript%3Cb%3E%3C/b%3E:%20openImage%28%27/images_upload/large_803.jpg%27%29;)
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ CHẾ KHOA ẤT SỬU NIÊN HIỆU CHÍNH TRỊ NĂM THỨ 8 (1565)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_803.jpg (http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_803.jpg)
Trời mở trung hưng, đời bình thánh chúa.
Anh Tông Tuấn hoàng đế đức cả mưu cao, căm ghét kẻ gian thần cướp ngôi họ Hạ1; trừ hung dẹp loạn, ngõ hầu khôi phục nhà Thương2. Thực nhờ Thế Tổ Minh Khang đại vương dùng người tài, làm việc chính nghĩa, mài chí trừ dẹp gian tà; muốn có mưu thần kính giúp trong chốn màn trướng, Chế khoa năm Ất Sửu (1565) bèn được mở ra. Đặc sai các quan Đề điệu, Tri Cống cử, Giám thí chia giữ các việc, vâng mệnh lựa chọn sĩ tử văn học bốn phương. Qua bốn trường, lấy trúng cách được 10 người. Hoàng thượng đích thân ngự ở hiên điện ra đề thi, định thứ bậc cao thấp. Ban cho bọn Lê Khiêm 4 người đỗ Đệ nhất giáp Chế khoa xuất thân, bọn Lê Nghĩa Trạch 6 người đỗ Đệ nhị giáp đồng Chế khoa xuất thân. Chọn ngày xướng danh yết bảng, tỏ cho sĩ tử thấy kết quả tốt đẹp. Ban tước trật để tỏ lòng ưu ái, cho áo mũ cân đai để điểm tô, ban yến Quỳnh Lâm, ơn sủng tràn đầy mà lễ đãi ngộ cũng rất hậu vậy. Bấy giờ dân chúng trong nước đều hân hoan nói: đời vua thánh mở khoa, ơn vinh rất trọng, sĩ tử đến nay vẫn bàn cho là việc tốt đẹp.
Những người đỗ khoa thi này đều là người tài giỏi lỗi lạc, chăm lo việc nước việc vua, hơn cả Tiêu, Trương3 giúp chúa, sự nghiệp sánh với Y, Chu4 ngày xưa. Công danh sự nghiệp của các vị ấy thực là rạng rỡ, đời sau còn mãi mãi được nhờ.
Mừng nay Hoàng thượng bệ hạ gánh trách nhiệm làm vua làm thầy, nắm quyền định đoạt, rộng tìm hào kiệt, sắp đặt điển chương. Thực nhờ [Đại nguyên súy Thống quốc chính Sư phụ Thanh vương] đích thân gánh vác thiên hạ, ra sức nắm giữ càn khôn mà kẻ sĩ bốn phương mây họp, chuyên uỷ cho [Nguyên súy Chưởng quốc chính Tây Định vương] lo việc trị, tiến cử cất nhắc hiền tài, chấn chỉnh triều cương, lấy thiên hạ làm trách nhiệm của mình. Nghĩ tới các vị công thần trung hưng, muốn danh sáng của họ được lưu truyền trong sử sách, quán các, biểu dương công lao bảo vệ nước nhà, định yên xã tắc, bèn sai từ thần ở Viện Hàn lâm chia nhau soạn bài ký ghi việc thực để công danh sự nghiệp của các vị ấy lưu truyền đến đời sau. Bọn thần kính cẩn cúi đầu rập đầu dâng lời rằng:
Trời vần chuyển ở trên, ắt phải nhờ sáu thứ5 để thành công. Vua ngự ở giữa, ắt phải quần hiền giúp trị. Do không để sót hiền tài ở chốn quê mùa mà nhà Ngu được hưởng nền thái bình thịnh trị. Nhờ trong nước có nhiều tài sĩ mà nhà Chu có cảnh tượng yên vui. Từ xưa các bậc đế vương muốn trị yên đất nước không vị nào không coi việc cầu hiền làm công việc trước nhất.
Kính nghĩ: Thánh triều Thái Tổ Cao hoàng đế triều ta dùng võ công định yên thiên hạ, dùng văn giáo chấn hưng nền thái bình, mến chuộng đạo Nho mà văn giáo cực thịnh. Liệt thánh hoàng đế nối tiếp nghiệp lớn, sửa sang điển chế xưa, trọng dụng Nho thần mà cuộc văn minh càng thêm rực rỡ.
Giữa chừng bỗng dưng gặp gian thần ngụy Mạc, khiến cho đạo Nho cơ hồ tiêu tan với đống tro Tần6.
May sao trời sinh Anh Tông Tuấn hoàng đế, làm cho quốc gia được vẻ vang to lớn, thu vời tuấn kiệt, nối mệnh của Trung Tông Vũ hoàng đế đều là nhờ mưu chước của Thế Tổ Minh Khang thái vương giúp mưu tụ tập anh hùng, thu phục cơ đồ cũ, rộng tìm nhân tài trong thiên hạ, thu dùng được hết cả người giỏi để làm việc nước. Thế Tông Nghị hoàng đế nối theo, phần nhiều nhờ Thành Tổ Triết vương giúp công trù hoạch, mở mang bờ cõi, chấn chỉnh mối giềng, lại lập ra khoa thi Chế khoa, chọn hiền tài giúp trị; bấy giờ được nhiều người giúp rất hiệu quả.
Đến nay Hoàng thượng bệ hạ7 nghĩ muốn mở mang nghiệp lớn của tiên tổ, muốn mở quy chế lâu dài; đặc biệt nghĩ hiền tài là nguyên khí của quốc gia phải nên vun trồng, khoa cử là chế độ của triều đình phải nên chấn chỉnh. Bèn sai từ thần chia nhau soạn bài ký chép về các khoa thi Chế khoa từ hồi đầu quốc triều (Trung hưng) cho đến các khoa Tiến sĩ gần đây. Đăng khoa phải có sách chép, đề danh phải có bia ký, để ghi công danh tới muôn đời và để rạng tỏ sự nghiệp đến ức vạn năm.
Kẻ sĩ sinh ra ở đời nay, được ghi tên vào tấm đá, thực may mắn làm sao! Nếu biết đưa gan trung mật nghĩa, lòng đá tiết vàng giúp rập, ra làm tướng thì lo sáng lập kỷ cương, chấn chỉnh pháp độ, khiến cho người đời khen như hạng danh thần Chu Triệu; người giữ chức thì tùy tài mà nhận trách nhiệm, khiến cho người đời tôn khen như hạng đại thần Phòng, Đỗ8 thì những kẻ hiền lương khi đọc bia này sẽ lấy đó làm gương khuyến khích. Còn nếu như nịnh bợ kiêu căng, gian tà hèn nhát sẽ bị người đời sau chê bai: kẻ nọ tà học cùng loại Công Tôn Hoằng, kẻ kia phản lại kinh sách cũng như Vương An Thạch, thế thì kẻ ác cũng phải biết mà tự răn mình.
Thế thì bia đá này dựng lên, trong chỗ khen chê còn có ngụ ý khuyên răn nữa.
Rạng rỡ lớn lao thay quy mô sử dụng hiền tài của liệt thánh! Kế thừa cao cả thay chuẩn mực chọn dùng người hiền của Thánh thượng ngày nay. Đó là vì để mở vận thái bình muôn thuở vậy.
Thần kính cẩn làm bài ký.
Dực vận Tán trị công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thượng thư Bộ Lễ kiêm Hàn lâm viện Thị giảng Tham Chưởng Hàn lâm viện sự Bạt Quận công Thượng trụ quốc Dương Trí Trạch vâng sắc nhuận.
Hàn lâm viện Đãi chế Nguyễn Đăng Cảo9 vâng sắc soạn.
Trung thư giám Hoa văn học sinh người phường Vĩnh Thái huyện Thọ Xương, trú quán xã Hoa Đường là Đào Vinh Lộc vâng sắc viết chữ (chân).
Trung thư giám Hoa văn học sinh người phường Báo Thiên huyện Thọ Xương, nhà ở xã Hoa Đường là Vũ Cử vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng ngày 16 tháng 11 niên hiệu Thịnh Đức thứ 1 (1653) Hoàng Việt.
Đệ nhất giáp Chế khoa Tiến sĩ xuất thân, 4 người:
LÊ KHIÊM 黎謙10 người xã Bảo Đà huyện Lôi Dương.
BÙI KHẮC NHẤT 裴克一11 người xã Bột Thái huyện Hoằng Hóa.
ĐỖ TẾ MỸ 杜濟美12 người xã Cổ Đôi huyện Nông Cống.
DƯƠNG TRÍ DỤNG 楊致用13 người xã Bạt Trạc huyện Thiên Lộc.
Đệ nhị giáp đồng Chế khoa Tiến sĩ xuất thân, 6 người:
LÊ NGHĨA TRẠCH 黎義澤14 người xã Cổ Đôi huyện Nông Cống.
ĐINH DOÃN TÍN 丁允信15 người xã Văn Giáp huyện Thượng Phúc.
LÊ VĂN XƯỚNG 黎文唱16 người xã Đan Hải huyện Nghi Xuân.
HOÀNG QUỐC THỰC 黃國實17 người xã Dực Thượng huyện Quảng Xương.
ĐỖ CẢNH 杜璟18 người xã Hoằng Liệt huyện Thanh Trì.
LÊ ĐA NĂNG 黎多能19 người xã Yên Chế huyện Lệ Thuỷ.
Chú thích:
1. Ý nói việc Mạc Đăng Dung tiếm ngôi nhà Lê.
2. Chỉ việc triều Lê Trung hưng đánh bại nhà Mạc, khôi phục kinh đô Thăng Long.
3. Tiêu, tức Tiêu Hà, Trương tức Trương Lương, hai công thần đời Hán Cao Tổ.
4. Y tức Y Đoãn, đại thần phụ chính của Thành Thang nhà Thương; Chu tức Chu Công (tên là Đán), đại thần phụ chính của Chu Vũ vương.
5. Nguyên văn “lục vật”: tuế, nguyệt, nhật, thời, tinh, thần.
6. Tro Tần: do chữ "Tần khôi" dịch ra. Tần Thuỷ Hoàng đốt sách chôn học trò. Vì đốt sách thành tro, cho nên gọi là tro của nhà Tần.
7. Chỉ vua Lê Thần Tông (1649-1662).
8. Phòng, Đỗ tức Phòng Huyền Linh và Đỗ Như Hối, hai vị danh thần đời vua Thái Tông nhà Đường.
9. Nguyễn Đăng Cảo: Xem chú thích 5, Bia số 15 .
10. Lê Khiêm (1541-1623) người xã Bảo Đà huyện Lôi Dương (nay thuộc huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Tham chính, tước hầu. Được vinh phong là Cương chính Kiệt tiết Tuyên lực công thần.
11. Bùi Khắc Nhất (1544-?) người xã Bột Thái huyện Hoằng Hóa (nay thuộc xã Hoằng Vinh huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hộ, tước Văn Phú bá, được vinh phong là Kiệt tiết Tuyên lực Hiệp mưu Tá lý công thần.
12. Đỗ Tế Mỹ (1535-1597) người xã Cổ Đôi huyện Nông Cống (nay thuộc xã Hoàng Giang huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa). Ông là con Đỗ Danh Đại và làm quan Tả Thị lang Bộ Hộ, tước Sùng Lĩnh hầu. Khi mất, ông được tặng Thượng thư, gia phong Thái bảo, tước Quận công.
13. Dương Trí Dụng (?-?) người xã Bạt Trạc huyện Thiên Lộc (nay thuộc xã Nhân Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh). Ông nội của Dương Trí Thạch. Ông giữ các chức quan, như Hữu Thị lang Bộ Hộ, tước Lâm Hoa bá, sau thăng Tả Thị lang Bộ Binh kiêm lĩnh chức Thừa chính sứ trấn Sơn Nam. Sau khi mất, ông được tặng Thượng thư Bộ Binh, Thái bảo, tước Lâm Quận công.
14. Lê Nghĩa Trạch (1536-1614) người xã Cổ Đôi huyện Nông Cống (nay thuộc xã Hoằng Giang huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa). Ông nội của Lê Sĩ Triệt, cao tổ Lê Sĩ Cẩn. Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Hộ. Khi mất, ông được tặng Thượng thư Bộ Binh, Thái bảo, tước Nham Quận công, gia phong Kiệt tiết Tuyên lực công thần.
15. Đinh Doãn Tín (?-?) người xã Văn Giáp huyện Thượng Phúc (nay thuộc huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Hiến sát sứ.
16. Lê Văn Xướng (1541-?) người xã Đan Phố huyện Nghi Xuân (nay thuộc xã Xuân Phố huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Hiến sát sứ.
17. Hoàng Quốc Thực (1542-?) người xã Dực Thượng huyện Quảng Xương (nay thuộc huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Hiến sát sứ.
18. Đỗ Cảnh (?-?) người xã Quang Liệt huyện Thanh Đàm (nay thuộc xã Thanh Liệt huyện Thanh Trì Tp.Hà Nội). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lại. Khi mất, ông được tặng chức Thượng thư, tước Quận công.
19. Lê Đa Năng (?-?) người xã An Chế huyện Lệ Thủy (nay thuộc huyện Lệ Ninh tỉnh Quảng Bình). Ông làm quan Giám sát Ngự sử. Có tài liệu ghi ông là Lê Danh Năng.
http://www2.svfpt.net/images/print_p.gif (http://www2.svfpt.net/images/print_p.gif)
Tử Hà
12-28-09, 10:33:02 PM
(javascript:%20openImage('/images_upload/large_802.jpg');)
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ CHẾ KHOA ĐINH SỬU NIÊN HIỆU GIA THÁI NĂM THỨ 5 (1577)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_802.jpg
Trời mở thánh triều, trao cho vận lớn. Thế Tông Nghị hoàng đế đức lớn thông minh, chí mưu khôi phục. Thực nhờ Thành Tổ Triết vương kế thừa cơ nghiệp của Thế Tổ Thái vương, dùng hiền tài phò trì kính giúp, tiến cử bậc chân Nho giúp trị, đặt khoa mục để chọn người tài, theo lệ đặt Chế khoa của hai khoa Giáp Dần và Ất Sửu, vào năm Đinh Sửu lại đặt Chế khoa, sai các viên Đề điệu, Tri Cống cử, Giám thí chia giữ các việc. Vâng mệnh khảo thí sĩ tử, dâng đọc quyển thi, kính vâng Hoàng thượng đích thân xem xét, chọn hạng xuất sắc được 5 người. Vâng sắc ban cho bọn Lê Trạc Tú 3 người đỗ Đệ nhất giáp Chế khoa xuất thân, bọn Hồ Bỉnh Quốc 2 người đỗ đồng Chế khoa xuất thân; cho dự yến tiệc, ban mũ áo cân đai. Trăm quan mặc triều phục chúc mừng, dân chúng bốn phương chụm đầu xem bảng, đều bảo bậc chân Nho xuất hiện thì thế đạo hanh thông. Nhưng đương thời chưa kịp ghi chép họ tên, còn để lần lữa đến nay.
Hoàng thượng bệ hạ thừa vận thái bình, thống nhất đất nước. Thực nhờ [Đại nguyên súy Thống quốc chính Sư phụ Thanh vương] giúp, quyết chí anh hùng, dẹp yên trong cõi, uỷ cho [Nguyên súy Chưởng quốc chính Tây Định vương] trong thống suất trăm quan, ngoài vỗ yên bốn biển. Riêng nghĩ hiền tài hữu ích cho quốc gia, cảm nhớ kẻ sĩ trong các Chế khoa có công lớn với nước, bèn sai từ thần tại Viện Hàn lâm chia nhau soạn bài ký. Bọn thần cung kính cúi đầu rập đầu dâng lời rằng:
Ngước nghĩ khí vận của quốc gia quan hệ ở nhân tài, mà nhân tài cao thấp do khoa mục tuyển định. Sự thu dụng được hiền tài đáng được coi là khí cụ để đạt đến thịnh trị.
Thái tổ Cao hoàng đế dùng võ công bình định, mở rộng văn đức, bủa lưới tìm kiếm hiền tài mà khoa mục mới được khởi thuỷ. Liệt thánh hoàng đế noi theo quy chế thành văn, kế thừa mưu lược sáng suốt, đặt khoa thi chọn kẻ sĩ mà nhân tài nối nhau xuất hiện.
Đến nay Hoàng thượng trung hưng, trăm việc mở mang, ba năm lại tổ chức một khoa thi lớn, noi theo phép chọn kẻ sĩ đời Hán, tuỳ thời cuộc mà đặt các môn thi, lo kiếm nhân tài để gây dựng công nghiệp. Từ năm Đinh Sửu (1577) niên hiệu Gia Thái tới nay, nhờ khoa mục mà chọn được nhân tài cho nước nhà sử dụng đến vô cùng, thật là thịnh vượng tốt đẹp lắm thay! Lại nhân đó mà đề danh vào bia đá để ghi lại sự kiện lớn, khiến người đời sau sẽ trông vào đó mà bắt chước vậy.
Thế thì những người thi đỗ làm quan phải nên đem hết tài năng làm tròn chức trách, dám can ngay nói thẳng, phò vua giúp dân, khiến người đời sau khen là bậc quân tử chính trực, ngõ hầu không phụ với khoa danh.
Thảng hoặc có kẻ mượn khoa danh để làm kế ấm no, mượn đường ấy để được giới sĩ hoạn kính trọng thì người đời sau tất sẽ nhìn vào họ tên mà nói: kẻ kia là hạng tiểu nhân gian tà, làm xấu lây cho khoa mục.
Thế thì bia đá này dựng lên, há chỉ để làm vẻ vang bề ngoài mà thôi đâu? Tất phải lấy đó để khuyên răn người đời, há chẳng nên thận trọng sao?
Bọn thần cúi vâng lời ngọc, do chức trách phải biên chép, há dám lấy cớ vụng về kém cỏi chối từ, bèn phô bày tán dương ý nghĩa chế tác của thánh triều để tỏ rõ cho đời sau được biết.
Bọn thần kính cẩn làm bài ký.
Dực vận Tán trị công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Lễ bộ Thượng thư kiêm Hàn lâm viện Thị giảng Tham Chưởng Hàn lâm viện sự Bạt Quận công Thượng trụ quốc Dương Trí Trạch vâng sắc nhuận.
Hàn lâm viện Đãi chế Nguyễn Đăng Cảo1 vâng sắc soạn.
Trung thư giám Hoa văn học sinh người xã Thái Lạc huyện Văn Giang là Nguyễn Thế Nho vâng sắc viết chữ (chân).
Trung thư giám Hoa văn học sinh, người thôn Nguyệt Lãng xã Nhân Lý huyện Đông Sơn là Lê Đình Đống vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng ngày 16 tháng 11 niên hiệu Thịnh Đức thứ 1 (1653) Hoàng Việt.
Đệ nhất giáp Chế khoa xuất thân, 3 người:
LÊ TRẠC TÚ 黎擢秀2 người xã Thượng Cốc huyện Lôi Dương.
NGUYỄN BẬT LƯỢNG 阮弼亮3 người xã Cương Gián huyện Nghi Xuân.
LÊ PHÚC NHẠC 黎福岳4 người xã Lạc Xuyên huyện Kỳ Hoa.
Đệ nhị giáp Chế khoa xuất thân, 2 người:
HỒ BỈNH QUỐC 胡秉國5 người xã Bình Lãng huyện Thiên Lộc.
NGUYỄN HOÀNH TỪ 阮宏詞6 người xã Phất Não huyện Thạch Hà.
Chú thích:
1. Nguyễn Đăng Cảo: Xem ở chú thích 5, Bia số 15 .
2. Lê Trạc Tú (1534-1609) người xã Thượng Cốc huyện Lôi Dương (nay thuộc địa phận huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa). Ông là cháu nội của Lê Tán Tương. Ông được Trịnh Tùng kính trọng, cho giữ chức Đô Ngự sử, tước Văn Trinh tử. Trong vụ biến loạn năm 1600, ông theo vua về Thanh Hóa, giúp nhiều mưu kế, được xếp hạng Hiệp mưu Tá lý công thần và giữ các chức quan như: Tham tụng, Thượng thư Bộ Lại, tước Văn Dương hầu. Khi mất, ông được phong phúc thần, tước Quận công.
3. Nguyễn Bật Lượng (1546-?) người xã Cương Gián huyện Nghi Xuân (nay thuộc xã Cương Gián huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Tự khanh, tước nam. Khi mất, ông được tặng Thị lang, tước bá.
4. Lê Phúc Nhạc (1553-?) người xã Lạc Xuyên huyện Kỳ Hoa (nay thuộc xã Cẩm Lạc huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan đến Hữu Thị lang Bộ Lễ, tước hầu. Có tài liệu ghi ông người xã Dư Lạc.
5. Hồ Bỉnh Quốc (?-?) người xã Bình Lãng huyện Thiên Lộc (nay thuộc xã Đức Thuận huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh). Ông giữ các chức quan, như Hữu Thị lang Bộ Hộ, Thừa chính sứ Thanh Hoa. Năm Bính thân (1596), ông cùng Phạm Hồng Nho làm đặc phái viên của Hàn lâm viện đi quan sát việc đo đạc ruộng đất, phân định ngạch thuế của các địa phương và được thăng Tả Thị lang Bộ Lại, tước Lễ Cung nam. Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư, tước Quận công.
6. Nguyễn Hoành Từ (1536-1599) người xã Phất Não huyện Thạch Hà (nay thuộc xã Thạch Bình huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan đến Tả Thị lang Bộ Lại.
(javascript:window.print())
Tử Hà
12-28-09, 10:33:47 PM
(http://javascript%3Cb%3E%3C/b%3E:%20openImage%28%27/images_upload/large_801.jpg%27%29;)
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA CANH THÌN NIÊN HIỆU QUANG HƯNG NĂM THỨ 3 (1580)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_801.jpg
Kính nghĩ thánh triều, Thái Tổ Cao hoàng đế khai cơ lập nghiệp, trọng đạo sùng Nho, bắt đầu dựng trường quốc học mà nền văn liền đó đã mở ra. Thái Tông Văn hoàng đế nối chí kế việc, dẹp võ sửa văn, bắt đầu đặt Nho khoa mà đạo Nho từ đó chấn hưng. Nhân Tông Tuyên hoàng đế mưu lược sáng suốt kế thừa liệt thánh, tiếp nối khuôn khổ, xem nhân văn để tác thành sĩ tử, đặt khoa mục để tìm tuấn kiệt, nhân tài bấy giờ rất thịnh. Thánh Tông Thuần hoàng đế trau dồi chăm lo cầu trị, hiếu học chuộng văn, mở rộng đường khoa mục, bắt đầu cho khắc bia Tiến sĩ, mà văn vận từ đó hết sức hanh thông.
Từ đó về sau, thánh nối thần truyền noi theo điển chương pháp độ. Dẫu ngẫu nhiên gặp tai ách, vận trung hưng may được vua hiền. Trung Tông Vũ hoàng đế, Anh Tông Tuấn hoàng đế dựng lại càn khôn, nhật nguyệt lại trở về sáng tỏ. Toàn nhờ Thế Tổ Minh Khang đại vương có bề tôi là Mị1 hết lòng dựng vua Thiếu Hạ, dốc lòng Cơ Đán2 giúp chúa Thành Chu khôi phục triều chính, thu dùng nhân tài, bắt đầu mở ra Chế khoa gồm 3 khoa mà các vị danh thần nườm nượp xuất hiện từ con đường phồn thịnh đó. Thế Tông Nghị hoàng đế trời phú thông minh, dấy quân nhân nghĩa, Thành Tổ Triết vương phù tá rất nhiều để trợ oai giúp đức, chiêu nạp hiền tài, lại đặt Chế khoa mà các bậc đại Nho thực học lớp lớp đều nhờ khoa ấy mà được hiển vinh.
Năm Canh Thìn niên hiệu Quang Hưng thứ 3 (1580), bấy giờ trong nước còn nhiều việc, chưa được rảnh rỗi, nhưng trước hết vẫn lo mở khoa thi Tiến sĩ ở ấp Thang Mộc3, đặc sai các quan Đề điệu, Tri Cống cử, Giám thí khảo xét kẻ sĩ có văn học, lấy trúng cách được 6 người, đó chính là khoa Tiến sĩ đầu tiên vậy.
Ngày hôm sau Điện thí, Hoàng thượng đích thân xét chọn, ban cho bọn Nguyễn Văn Giai 4 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Lê Quang Hoa 2 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân, ân vinh rất hậu, sủng ái rất nhiều.
Sau đó kế tiếp mở các khoa Quý Mùi (năm 1583), Kỷ Sửu (năm 1589) và Nhâm Thìn (năm 1592), lựa chọn được nhiều kẻ sĩ tài trí trung hậu chung lo việc lớn, dẹp trừ nguỵ Mạc, thu phục kinh thành, thiên hạ đều gom về một mối.
Lúc bấy giờ vừa lập võ công, chấn hưng văn trị, bắt đầu mở khoa thi Ất Mùi (năm 1595), chính là khoa thứ nhất của thời Trung hưng. Tiếp sau mở khoa Mậu Tuất (năm 1598), là khoa thứ hai. Thời bấy giờ, kẻ sĩ chân chính tìm tới rất đông, nhà Nho thực tài nối nhau xuất hiện. Ngọc khuê ngời sáng tô điểm cho pháp độ của vương gia, trang sức gấm hoa cho cỗ xe của hoàng tộc mà nhân tài có công lao phò tá, thiên hạ có hiệu quả trị bình. Kính Tông Huệ hoàng đế chăm lo trị đạo, cất nhắc sử dụng nhân tài, thực nhờ Thành Tổ Triết vương một lòng cung kính sửa sang chính sự, mở 7 khoa thi mà những người chân chính đức vọng xuất hiện để giúp đời thịnh sáng, lập công phò tá nền thái bình, không chỉ đắc dụng một thời mà còn có ích cho ngày khác.
Kính nghĩ: Hoàng thượng đảm đương mệnh lớn, nối giữ hồng đồ, tôn trọng Nho học, nuôi dưỡng nâng đỡ nhân tài. Thực nhờ [Đại nguyên súy Thống quốc chính Sư phụ Thanh vương] dựng kỷ cương, sửa pháp độ, yên xã tắc, trọng triều đình, muốn dựng kế lâu dài, mưu tính sẵn cho con cháu. Chuyên uỷ cho [Nguyên súy Chưởng quốc chính Tây Định vương] phò tá Thánh thượng, làm rạng đạo trời, bủa lưới khoa mục, chọn dùng hiền tài. Cho nên nhân tài đông như mây tụ, toả đi khắp nơi. Thời bấy giờ vẻ nhân văn rực rỡ, trị giáo sáng rệt tốt lành. Trong khi muôn việc được lúc rảnh rang, nghĩ quốc triều từ hồi Trung hưng tới nay, các khoa thi Chế khoa và khoa Tiến sĩ được rất nhiều nhân tài, mà việc khắc đá chưa kịp tiến hành, bèn sai Bộ Công mài đá, từ thần soạn bài ký dựng tại cửa hiền môn để truyền tới lâu dài.
Thần kính vâng mệnh sáng, khôn xiết vui mừng, kính cẩn cúi đầu rập đầu dâng lời rằng:
Nhân tài là nguyên khí của nước nhà, không thể không lo vun trồng bồi đắp. Chế độ là vẻ sáng truyền lại của triều đình, không thể không làm cho rõ ràng đầy đủ.
Nay Thánh thượng gánh trách nhiệm tôn quý, nắm quyền hành định đoạt, dưỡng dục nhân tài, sửa sang chế độ, tạc đá khắc bia để truyền lại khuôn mẫu cho đời sau, chép họ ghi tên để cho hậu thế xem đọc. Trên để tuyên dương tiếng thơm của người trung nghĩa đời trước, dưới để cảm hoá kẻ sĩ hào kiệt đương thời; mà ý khen ngợi khuyên răn gửi cả vào trong đó. Xem thế đủ thấy Thánh thượng vun đắp thế đạo, chấn hưng nền văn thực dày công.
Kẻ sĩ được sinh vào thời thánh minh thực may mắn làm sao!
Nay hãy thử xét một khoa này: Có người vận trù quyết sách giúp nên công dẹp loạn; có người sắp đặt chính sự giúp cho cuộc trị bình; có người làm sứ thần hoàn thành sứ mệnh; có người giữ chức gián quan giúp đổi được lòng vua, công danh sự nghiệp của họ đại khái cũng đã có thể thấy được. Thảng hoặc có kẻ hành trạng gian tà, thuộc hạng tham bỉ, thì sao có thể trốn được nghị luận muôn đời?
Thế thì bia đá này dựng lên, người thiện thì được khuyến khích, kẻ ác có thể lấy làm răn, nêu tỏ dĩ vãng, rộng bảo tương lai. Sự bổ ích cho thế giáo, quan hệ đến trị đạo, tác dụng há phải là nhỏ đâu?
Bọn thần kính cẩn làm bài ký.
Dực vận Tán trị công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thượng thư Bộ Lễ kiêm Hàn lâm viện Thị giảng Tham Chưởng Hàn lâm viện sự Bạt Quận công Thượng trụ quốc Dương Trí Trạch vâng sắc nhuận.
Hàn lâm viện Đãi chế Khương Thế Hiền4 vâng sắc soạn.
Trung thư giám Hoa văn học sinh quê xã Trung Lập huyện Đường Hào là Phạm Văn Vị vâng sắc viết chữ (chân).
Quang tiến Thận lộc đại phu Kim quang môn Đãi chiếu Triện thích thái hàm Quế Lan nam Nguyễn Quang Độ vâng mệnh viết chữ triện.
Bia dựng ngày 16 tháng 11 niên hiệu Thịnh Đức thứ 1 (1658) Hoàng Việt.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 4 người:
NGUYỄN VĂN GIAI 阮文階5 người xã Phù Lưu Trường huyện Thiên Lộc.
PHÙNG KHẮC KHOAN 馮克寬6 người xã Phùng Xá huyện Thạch Thất.
PHẠM VĂN LAN 范文蘭7người xã Vũ Lăng huyện Thượng Phúc.
ĐẶNG ĐÔN PHỤC 鄧敦復8người xã Tả Thiên Lộc huyện Thiên Lộc.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 2 người:
LÊ QUANG HOA 黎光花9người xã Quần Đội huyện Lôi Dương.
NGUYỄN TRẠCH 阮宅10người xã Trung Hoà châu Bố Chính.
Chú thích:
1. Mị: tên một hiền thần. Vua Đế Tướng nhà Hạ bị Hàn Xúc cướp ngôi, Mị lập Thiếu Khang là con của Đế Tướng lên làm vua, đánh giết Hàn Xúc, khôi phục cơ đồ nhà Hạ.
2. Cơ Đán tức Chu Công tên Đán, em ruột vua Võ Vương nhà Chu, làm Tể tướng giúp Thành Vương, con của Vũ Vương khiến cho đất nước thái bình, được người sau khen ngợi.
3. Ấp Thang Mộc: chỉ đất Thanh Hóa.
4. Khương Thế Hiền (1608-?) người xã Bình Lãng huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương (nay xã Bình Lãng huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Giám sát. Khương Thế Hiền là người soạn 5 văn bia, khoa 1580, khoa 1583, khoa 1589, khoa 1602 và khoa 1646.
5. Nguyễn Văn Giai (1554-1628) người xã Phù Lưu Trường huyện Thiên Lộc (nay thuộc xã Phù Lưu huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh). Ông là đại thần có công lớn với nhà Lê Trung hưng, hai lần tháp tùng vua Lê Thế Tông lên cửa Nam Quan để hội kiến với sứ thần nhà Minh (năm 1596, năm 1597). Ông làm quan đến đến chức Tham tụng, Thượng thư Bộ Lại, phụ trách chung công việc của sáu Bộ (Chưởng Lục bộ sự) kiêm Đô Ngự sử, hàm Thiếu bảo, tước Lễ Quận công. Ông làm quan trải ba triều, công danh quyền lực hơn hết một thời. Vì phe cánh của Trịnh Xuân vu cho con ông mưu phản, ông phải uống thuốc độc tự tử. Sau khi mất, ông được tặng chức Đại tư đồ, tên thụy là Cẩn Độ.
6. Phùng Khắc Khoan (1528-1613), ông hiệu là Nghị Trai毅齋 tự là Hoằng Phu 弘夫 và tục gọi là Trạng Bùng, người xã Phùng Xá huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây (nay thuộc xã Phùng Xá huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây). Ông là học trò Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông làm quan Thượng thư Bộ Hộ kiêm Quốc tử giám Tế tửu, tước Mai Quận công và từng hai lần được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng Thái tể, phong phúc thần.
7. Phạm Văn Lan (?-?) người xã Vũ Lăng huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Thắng Lợi huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư Bộ Binh, Thừa chính sứ, tước hầu.
8. Đặng Đôn Phục (?-?) người xã Tả Thiên Lộc huyện Thiên Lộc (nay là xã Thiên Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Hiến sát sứ.
9. Lê Quang Hoa (1557-?) người xã Quần Đội huyện Lôi Dương (nay thuộc huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan đến Hiến sát sứ.
10. Nguyễn Trạch (1548-?) người xã Trung Hòa châu Bố Chính (nay thuộc tỉnh Quảng Bình). Ông làm quan Hiến sát sứ.
(http://javascript%3Cb%3E%3C/b%3E:window.print%28%29)
Tử Hà
12-28-09, 10:35:13 PM
(javascript:%20openImage('/images_upload/large_892.jpg');)
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA QUÝ MÙI NIÊN HIỆU QUANG HƯNG NĂM THỨ 6 (1583)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_892.jpg
Kính nghĩ: Thế Tông Nghị hoàng đế tấm lòng nhân hậu, chí khí anh hùng, muốn mở mang cơ nghiệp tổ tông, thu nạp hết anh tài đất nước. Thực nhờ Thành Tổ Triết vương khuông phò chính thống, giúp dựng qui mô. Buổi bấy giờ còn phải lo việc quân, nhưng vẫn lấy việc cầu hiền làm trên hết. Bèn mở khoa thi Hội tại ấp Thang Mộc, sai các quan Đề điệu, Tri Cống cử, Giám thí thi Hội các văn nhân tài tuấn, lấy được 4 người trúng cách.
Hôm sau Điện thí, Hoàng thượng đích thân xét định, cho bọn Nguyễn Nhân Thiệm 3 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, Nguyễn Văn Thông 1 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân. Ơn vinh ban cấp theo thứ bậc như lệ cũ.
Những người xuất thân trong khoa này đều là những nhân tài thạc học, bậc tuấn sĩ anh tài, mừng vui được đem tài năng ứng dụng cho đời, giúp việc quân cơ, dẹp trừ ngụy Mạc. Kinh đô nhà Hạ từ đó được thu hồi, cơ nghiệp nhà Hán lại thêm sáng rạng. Công lao giúp cho sự khôi phục quốc gia, há chẳng phải sức của nhân tài hay sao?
Kính nghĩ: Hoàng thượng bệ hạ đảm đương lịch số nối truyền, gánh trách nhiệm làm vua làm thầy, chăm lo cầu trị, tin dùng chân Nho. Thực nhờ [Đại nguyên súy Thống quốc chính Thượng chủ Sư phụ Công cao Thông đoán Nhân thánh Thanh vương] kế thừa cơ nghiệp hai đời thánh chúa, chấn chỉnh kỉ cương, giúp vua gây dựng ơn đức. Muốn mở mang nghiệp lớn phải dùng đến mưu lược rộng xa. Uỷ quyền cho [Nguyên súy Chưởng quốc chính Tây Định vương] cai quản trăm quan, điều hoà bốn bể, xét quyết mọi việc, thả lưới thu nạp nhân tài. Lúc bấy giờ hiền tài đông dường mây cuốn, pháp độ sáng tỏa như sao. Nhân khi muôn việc rảnh rang, nghĩ đến việc các khoa thi Chế khoa từ Trung hưng đến nay (chưa khắc bia), bèn sai quan bộ Công khắc đá đề danh, từ thần soạn bài ký dựng ở cửa nhà Thái học để khuyến khích kẻ sĩ trong nước.
Bọn thần kính vâng chỉ dụ, vâng mệnh thuật việc khắc bia, đâu dám viện cớ vụng về chối từ, kính cẩn cúi đầu rập đầu dâng lời rằng:
Có đế vương hưng nghiệp, ắt có chế độ hưng vương. Ngước xem việc khắc đá đề danh, chính bắt đầu từ Thánh Tông Thuần hoàng đế lập quy mô lớn lao tốt đẹp, mở nền thái bình muôn đời. Từ khi đất nước khôi phục tới nay, phép ấy bị bỏ bễ đã lâu, đó là vì bận nhiều việc chưa kịp làm theo quy chế cũ. Có lẽ để làm việc ấy cũng còn trông đợi ở ngày nay.
Kính nghĩ: Thánh thượng chuộng văn giữ gìn thành pháp, trọng đạo sùng Nho, noi theo điển chương của tiền vương, làm sáng rõ chế độ ở đời thái bình. Mới đem các khoa thi trước sau khắc vào đá tốt, vừa là để biểu dương danh thơm đức tốt, vừa là để khuyến khích kẻ trung thần. Thật tốt đẹp biết bao!
Hãy lấy những người đỗ trong khoa này mà điểm lại: Có người nổi tiếng nhờ đức hạnh chính sự, có người nổi tiếng là thanh liêm trung trực. Trong đó cũng không thể không có kẻ gian tà hèn nhát. Một khi đã khắc tên lên bia đá này, người đời sau đến xem sẽ chỉ tên mà bảo nhau: người này được, người kia hỏng; người này hay, người kia dở, nhờ đó mà kẻ thiện biết tự khuyến khích, kẻ ác biết tự răn đe. Thế thì bia đá này dựng lên, há chỉ chuộng hư danh làm cho đẹp mắt mà thôi đâu! Ý nghĩa sâu xa của sự khuyến khích răn đe chính gửi ở trong đó.
Bọn thần kính cẩn làm bài ký.
Dực vận Tán trị công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Lễ bộ Thượng thư kiêm Hàn lâm viện Thị giảng Tham Chưởng Hàn lâm viện sự Bạt Quận công Thượng trụ quốc Dương Trí Trạch vâng sắc nhuận.
Hàn lâm viện Đãi chế Khương Thế Hiền1 vâng sắc soạn.
Trung thư giám Hoa văn học sinh người xã Lai Duệ huyện Thụy Nguyên là Trịnh Khuê vâng sắc viết chữ (chân).
Quang tiến Thận lộc đại phu Kim quang môn Đãi chiếu kiêm Triện thích thái hàm Quế Lan nam Nguyễn Quang Độ vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng ngày 16 tháng 11 niên hiệu Thịnh Đức năm thứ 1 (1653) Hoàng Việt.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 3 người:
NGUYỄN NHÂN THIỆM 阮仁贍2 người xã Bột Thái huyện Hoằng Hóa.
NGUYỄN PHONG 阮峰3 người xã Bình Hồ huyện La Sơn.
TRẦN PHÚC HỰU 陳福祐4 người xã Yên Việt Hạ huyện La Sơn.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 1 người:
NGUYỄN VĂN THÔNG 阮文通5 người xã Hương Cái huyện Hưng Nguyên.
Chú thích:
1. Khương Thế Hiền: Xem chú thích 4, Bia số 18.
2. Nguyễn Nhân Thiệm (1563-1645) người xã Bột Thái huyện Hoằng Hóa (nay thuộc xã Hoằng Vinh huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Thái thường tự khanh, sau thăng Thượng thư Bộ Công và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).
3. Nguyễn Phong (1559-?) người xã Bình Hồ huyện La Sơn (nay thuộc xã Yên Hồ huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Thái thường Tự khanh. Khi mất, ông được tặng chức Tả Thị lang.
4. Trần Phúc Hựu (1551-?) người xã Yên Việt Hạ huyện La Sơn (nay thuộc xã Đức Châu huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Đại lý Tự khanh. Khi mất, ông được tặng chức Hữu Thị lang, tước nam. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Phúc Hựu.
5. Nguyễn Văn Thông (1561-?) người xã Hương Cái huyện Hưng Nguyên (nay thuộc xã Hưng Chính huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An). Ông làm quan Binh khoa Đô Cấp sự trung. Có tài liệu ghi ông là Lê Văn Thông.
(javascript:window.print())
Tử Hà
12-28-09, 10:36:37 PM
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA KỶ SỬU NIÊN HIỆU QUANG HƯNG NĂM THỨ 12 (1589)
光興十二年己丑科進士題名記
皇天啟中興之業心篤生賢人君開大比 科法公取士欽惟世宗毅皇帝英睿之資 坤之器休思紹聖務急求賢寔賴成祖哲 王再造國家贊襄治道乃於己丑年開大 之科於湯沐之邑特命調知貢舉監試等 會試豪傑之士拔其尤者止得四名翌日 殿試聖覽第其高下賜黎汝弼等二名進 出身梁謙亨等二名同進士出身眷愛之 甚厚寵任之意尤隆故出是科者皆棟樑 之才碩輔之器弼成扒亂之功佐致中興 業當是之時君為中興賢君臣為中興賢 正中興第一機會雖鐫石鼓之時勒浯溪 之碑何足以形容其萬一然是科正經營 業之時而刻石題名之制未立其能成所 成備所未備蓋必待大有作為之君於維 皇上陛下承揖遜之傳撫隆平之運增賁 功崇尚文治實賴大元帥總國政太上師 功高仁聖清王[?]二聖王之緒整頓乾坤掀揭宇宙振舉朝 明揚士類欲緝熙鴻業用啟迪燕謀專委 帥掌國政西定王管攝百官總裁庶務體 周易觀文設漢科取士屬時文運世蝟興 才效有魚躍萬機之暇留意科目以為美 盛事固已赫奕於一時永譽流芳尤可昭 垂於久遠故命冬官勒之堅石寘在賢關 耀後世而垂無窮又命詞臣撰記臣等叨 明命為斯文賀不敢以拙而辭謹拜手稽 首而進言曰有英明之主必有俊傑之才 人才由科目而出粵自成周之時始有進 之選迨至唐有龍虎榜宋有將相科炳然 方冊策可徵洪惟聖朝聖祖神宗創業垂 重道崇儒進士有科為萬世之良法題名 記為百代之元氣列聖相繼相承成規是 遵是踵自恢復之來雖制科進士之科常 而刻石題名之制由闕舉而行之必有待 日欽惟聖上業繩祖武教闡人文科目盛 行制度大備且以諸科姓名大書深刻列 碑嵯峨對冑監屹立以為熙朝盛典以為 士榮觀於此有以仰見聖上隆儒之美意 有加焉士生斯世其報效當何如耶然以 科而求先正之事業有位歷尚書為朝廷 石有職兼祭酒為諸生著龜或侍經筳而 成君德或陪翠幄而為王師功名久垂竹 勳業永紀旂常大概可觀間或有賢否忠 之跡是非得失之分瑜瑕不能容掩至玆 預登斯石起人觀瞻指某為君子目某為 人凜凜乎公論甚嚴為後進者當擇其善 從之其不善而戒之然則斯石一立非惟 明褒貶於往前億亦示勸懲於來世其功 大有益於治道而國家抑萬年太平之基 奠諸泰磐矣臣謹記
翊運贊治功臣特進金紫榮祿大夫禮部 書兼翰林院侍講參掌翰林院事拔郡公 柱國臣楊致澤奉潤翰林院待制臣姜世 賢等奉敕撰
中書監華文學生東岸扶輪社臣阮忠佐 書
光進慎祿大夫金光門待詔兼篆別綵亟 蘭男臣阮光度奉敕篆
皇越盛德元年十一月十六日立
Hoàng thiên mở nghiệp trung hưng, dốc tâm sinh hiền. Bậc nhân quân mở khoa thi lớn, theo phép công mà kén chọn kẻ sĩ.
Kính nghĩ: Thế Tông Nghị hoàng đế, thiên tư thông minh, khí lượng càn khôn rộng lớn, nghĩ suy nối tốt công nghiệp của tiên thánh, chăm chỉ cầu hiền. Thực là nhờ Thành Tổ Triết vương dựng lại nước nhà, kính giúp lo trị nước. Bèn vào năm Kỷ Sửu mở khoa thi hội ở ấp Thang Mộc, sai các quan Đề điệu, Tri Cống cử, Giám thí Hội thí các kẻ sĩ hào kiệt trong nước, chọn được hạng xuất sắc 4 người.
Sáng hôm sau, vào thi Đình, Thánh thượng duyệt quyển, định thứ tự cao thấp. Ban cho bọn Lê Nhữ Bật 2 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Lương Khiêm Hanh 2 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân. Ơn ưu ái sâu dày, lòng tin cậy cao trọng. Cho nên những người đỗ khoa này đều trở thành rường cột triều đình, thành trung thần phụ chính, giúp công dẹp loạn lập trị, phò tá sự nghiệp trung hưng. Thời bấy giờ vua là vua sáng đời Trung hưng, bề tôi là tôi hiền thời Trung hưng, chính là một cơ hội bậc nhất trong thời Trung hưng, dẫu có khắc thơ trống đá, tạc bia khe Ngô cũng chưa đủ mô tả một phần trong muôn phần được. Nhưng khoa ấy chính lúc phải lo toan việc lớn, nên chưa kịp khắc đá đề danh. Có lẽ làm xong việc chưa xong, làm dủ việc chưa đủ, ắt còn phải chờ bậc vua sáng đủ đức lớn làm nên những việc lớn lao.
Kính trông: Hoàng thượng bệ hạ được nhường ngôi kế nối cơ nghiệp lớn lao, nắm giữ vận mệnh thăng bình, tô điểm công lao đời trước, chuộng sùng văn trị đời nay. Thực nhờ [Đại nguyên súy Thống quốc chính Sư phụ Thanh vương] nối mối giềng của hai thánh vương trước, chỉnh đốn càn khôn, xoay vần vũ trụ; chấn chỉnh kỉ cương, đề cao kẻ sĩ; làm cho sáng rạng cơ đồ lớn lao, lấy đạo sáng để lại mưu hay cho đời sau, chuyên uỷ cho [Nguyên súy Chưởng quốc chính Tây Định vương] thống quản trăm quan, định đoạt muôn việc; lấy Chu Dịch để xem xét nhân văn, theo phép nhà Hán đặt khoa thi chọn kẻ sĩ.
Thời bấy giờ văn vận nổi như nhím dựng lông, nhân tài ganh đua như cá vượt sóng. Nhân lúc rảnh rang trong muôn việc, lưu ý khoa mục, cho là việc lớn tốt đẹp rạng rỡ một thời, mãi truyền tiếng thơm cho hậu thế, soi rọi đến lâu dài. Bèn sai Bộ Công khắc đá cứng dựng ở nhà Thái học để soi tỏ cho đời sau, lưu truyền đến vô cùng. Lai sai từ thần soạn bài ký.
Bọn thần kính vâng mệnh sáng, mừng thay cho Nho sĩ nước nhà, há dám viện cớ vụng về để chối từ. Vậy xin kính cẩn cúi đầu rập đầu dâng lời rằng:
Có bậc thánh chúa anh minh, ắt có nhân tài tuấn kiệt, mà nhân tài ắt phải do từ khoa mục mà ra. Xét từ đời Thành Chu bắt đầu có thi Tiến sĩ mà đến đời nhà Đường mới có bảng Long Hổ, nhà Tống có khoa thi tướng võ tướng văn, sử sách ghi chép rõ ràng.
Kính nghĩ: Thánh triều ta, thánh tổ thần tông lập nghiệp nối truyền, sùng Nho trọng đạo, mở khoa thi Tiến sĩ để phép tốt cho hậu thế, đề danh có bia đá, lưu gương sáng đến muôn đời. Liệt thánh nối nhau kế thừa, những quy chế đã lập thành đều nhất nhất tuân giữ. Từ khi khôi phục đến nay, tuy các khoa Chế khoa, Tiến sĩ thường mở, nhưng điển chế khắc đá đề danh thì còn thiếu, hoàn thành được việc đó ắt còn đợi tới ngày nay.
Kính nghĩ: Thánh thượng tạm gác việc võ, mở rộng giáo hoá nhân văn. Khoa mục thịnh hành, chế độ hoàn bị. Lại cho khắc sâu chữ lớn đề họ tên những người thi đỗ các khoa, sừng sững dựng bia cao đối diện với trường Giám để làm thịnh điển cho thánh triều, cũng là để cho sĩ tử vinh hạnh trông vào. Ngước trông đủ thấy ý đẹp sùng Nho của Thánh thượng. Vậy thì kẻ sĩ sinh ở đời này, sự đền đáp phải nên thế nào?
Nay hãy nhìn vào sự nghiệp của các tiền bối trong khoa này mà xem: Có người giữ chức Thượng thư, làm trụ đá cho triều đình; có người kiêm chức Tế tửu, làm gương mẫu cho sinh viên; có người hầu giảng ở kinh diên mà giúp dưỡng thành đức lớn của thánh đế; có người ra vào lầu tía làm quân sư cho thánh vương, công danh mãi ghi trên lụa, lưu truyền sử sách, công danh sự nghiệp mãi được nêu cao, đại khái đã có thể thấy rõ. Trong số ấy, hoặc có ai trung ai nịnh, phải trái, tốt xấu phân biệt, mà tì vết thì không thể che đậy được.
Đến nay tên tuổi đề lên bia đá này để cho thiên hạ trông vào, người ta sẽ chỉ vào tên mà bảo: Vị này là bậc quân tử, người kia là kẻ tiểu nhân, công luận thật rất gay gắt nghiêm khắc. Kẻ hậu tiến hãy lựa chọn gương tốt mà noi theo, mà những gì bất thiện cũng phải biết để tự răn mình. Thế thì bia đá này dựng lên không phải chỉ để khen chê thời trước, mà còn để khuyên răn cho đời sau, công dụng của nó thật rất có ích cho trị đạo và nền tảng thái bình muôn vạn năm của nước nhà cũng mãi mãi vững chắc như núi Thái Sơn vậy.
Thần kính cẩn làm bài ký.
Dực vận Tán trị công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Lễ bộ Thượng thư kiêm Hàn lâm viện Thị giảng Tham Chưởng Hàn lâm viện sự Bạt Quận công Thượng trụ quốc Dương Trí Trạch vâng sắc nhuận.
Hàn lâm viện Đãi chế Khương Thế Hiền1 vâng sắc soạn.
Trung thư giám Hoa văn học sinh quê ở xã Phù Luân huyện Đông Ngàn là Nguyễn Trung Tá vâng mệnh viết chữ chân.
Quang tiến Thận lộc đại phu Kim quang môn Đãi chiếu kiêm Triện thích thái hàm Quế Lan nam Nguyễn Quang Độ vâng mệnh viết chữ triện.
Bia dựng ngày 16 tháng 11 niên hiệu Thịnh Đức năm thứ 1 (1653) Hoàng Việt.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 2 người:
LÊ NHỮ BẬT 黎 汝 弼2 người xã Vĩnh Trị huyện Hoằng Hóa.
LƯƠNG CHÍ 粱 寘3 người xã Tào Sơn huyện Ngọc Sơn.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 2 người:
LƯƠNG KHIÊM HANH 粱 謙 亨4 người xã Hội Triều huyện Hoằng Hóa.
LÊ ĐÌNH TÚC 黎 廷 肅5 người xã Nhân Cương huyện Nông Cống.
Chú thích:
1. Khương Thế Hiền: Xem chú thích 4, Bia số 18.
2. Lê Nhữ Bật (1565-?) người xã Vĩnh Trị huyện Hoằng Hóa (nay thuộc xã Hoằng Quang huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Lại khoa Đô Cấp sự trung và được cử đi sứ. Sau khi mất, ông được tặng Thượng thư Bộ Công, tước Nhâm Quận công và phong phúc thần.
3. Lương Chí (1542-?) người xã Tào Sơn huyện Ngọc Sơn (nay thuộc huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa). Ông là ông nội của Lương Nghi. Ông giữ các chức quan, như Hiệp mưu Tá lý công thần, Tham tụng, Thượng thư Bộ Hộ, kiêm Quốc tử giám Tế tửu, Nhập thị Kinh diên và được phong tước bá.
4. Lương Khiêm Hanh (1563-?) người xã Hội Triều huyện Hoằng Hóa (nay thuộc xã Hoằng Phong huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa). Ông là cháu nội của Lương Đắc Bằng và làm quan Lễ khoa cấp sự trung.
5. Lê Đình Túc (1542-1623) người xã Nhân Lãng huyện Nông Cống (nay thuộc huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa). Ông giữ các chức quan, như Tá lý công thần, Thượng thư Bộ Công, tước Triệu Giang hầu. Sau khi mất, ông được tặng Thượng thư Bộ Binh, tước Triệu Quận công.
[/URL][URL="http://www2.svfpt.net/images/print_p.gif"]http://www2.svfpt.net/images/print_p.gif (http://www2.svfpt.net/images/print_p.gif)
Tử Hà
12-28-09, 10:49:31 PM
(javascript:%20openImage('/images_upload/large_799.jpg');)
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA NHÂM THÌN NIÊN HIỆU QUANG HƯNG NĂM THỨ 15 (1592)
http://www.hannom.org.vn/images_upload/small_799.jpg
Trời mở vận trung hưng, thời dấy vận văn trị.
Kính nghĩ: Thế Tông Nghị hoàng đế sáng nhận mệnh lớn, phấn chí trung hưng, sửa sang chính sự, chấn tác kỷ cương, trọng đãi hiền tài, hoằng dương công nghiệp. Thực nhờ Thành Tổ Triết vương1 nối nghiệp Minh Khang thái vương2 khuông phù đế thất, giúp giữ cơ đồ hoàng gia, kính cẩn nhận quyền giúp trị, kíp gấp cầu tìm hiền tài. Bèn ở ấp Thang Mộc3 mở thi Chế khoa 1 khoa và 6 khoa thi Tiến sĩ. Khoa này mở năm Nhâm Thìn niên hiệu Quang Hưng thứ 15 chính là khoa thi Tiến sĩ thứ 4 đời Trung hưng. Rộng mở trường thi mùa xuân, thi Hội các sĩ nhân trong nước, chọn lấy hạng xuất sắc, quan hữu ti kê tên tâu lên.
Ngày hôm sau Điện thí, Hoàng thượng lâm ngự trên hiên, đích thân ban đề thi văn sách, đặc sai các quan Đề điệu, Tri Cống cử, Giám thí chia giữ các việc. Đến khi dâng quyển lên đọc, Hoàng thượng sáng suốt ngự lãm, đích thân xem xét xếp định thứ bậc. Ban cho Trịnh Cảnh Thụy, Ngô Trí Hoà 2 người đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, Ngô Trí Triđỗ đồng Tiến sĩ xuất thân có thứ bậc khác nhau. Loa gọi xướng tên người thi đỗ. Quan Bộ Lễ rước bảng vàng ra treo ngoài cửa nhà Thái học để cho sĩ tử vẻ vang trông xem. Lại kính tuân ân lệnh ban phong tước trật để nêu bật danh phận, ban áo mũ phẩm phục để được đẹp thân, ban yến Quỳnh Lâm để tỏ ơn từ huệ, cấp biển gổ để rước vinh quy, nêu cao ý ưu ái đãi ngộ. Mạch đạo trở lại xuân tươi, rừng Nho càng được khởi sắc. Sĩ tử và dân chúng Tràng An đâu đâu cũng túm tụm trông xem, đều cho là vui sướng được thấy cảnh thái bình đời thịnh của thánh triều. Cha con cùng đỗ một khoa4, thực là văn minh thịnh hội vậy.
Đỗ khoa này đều là những bậc tài cao học rộng, có người hiến mưu hay trong chốn lầu đồng cửa ngọc, có người mở tráp vàng kho đá mà sưu tầm những áng văn hay, giúp sáng lại đôi vừng nhật nguyệt; sau khi đỗ liền làm mưa rào giúp vua ơn dân, hiến mưu trung để trợ giúp đại kế, phù vận lớn mà đưa đến cuộc trung hưng. Quốc gia nhờ đó dẹp trừ được ngụy Mạc, khôi phục kinh thành, sáu cõi5 cùng xuân, thiên hạ thu về một mối. Được như vậy cũng nhờ có công giúp của những người thi đỗ khoa này. Công danh của họ đại khái đã thấy, nhưng việc khắc đá đề danh thì chưa được cử hành. Hoàn thành ý muốn của người xưa chưa kịp hoàn thành, coi trọng tư văn ở cái đáng coi trọng, chính là lúc này đây.
Ôi! Hoàng thượng bệ hạ6 mưu lược sáng suốt, đức hợp Trùng Hoa7, hàng đầu coi trọng tinh chuyên8, mong có người hiền đức để vời ra giúp nước. Thực nhờ [Đại nguyên súy Thống quốc chính Sư phụ Thanh vương]9 lập công trị nước, mưu yên thiên hạ, chuyên giao cho [Nguyên súy Chưởng quốc chính Tây Định vương]10thống lĩnh trăm quan, xét quyết mọi việc, cùng bề tôi văn võ đồng lòng kính giúp, việc nước đều được tốt đẹp, khoa cử thịnh hành, nhân tài tiếp nối ra giữ các chức việc, sân triều chật đông khanh sĩ, giữa nắng sáng trời trong tiếng hô vâng ran dậy, chốn đài xuân đuốc ngọc ai nấy đều dốc lòng tận trung. Đó là sự diệu kỳ mà thánh giáo đã tác thành cho con người, nhờ sự dưỡng dục hun đúc mà đạt được như thế. Quả thật là tác thành có phương, khích lệ có phép vậy. Nghĩ rằng khoa mục tùy thời mà đặt ra, có quy chế hay để kén chọn nhân tài, khắc đá đề danh, rộng khuyên tác thành cho kẻ sĩ. Vả lại bia đá một khi dựng lên là quốc triều đã có thành pháp, mà từ Trung hưng khôi phục đến nay chưa kịp cử hành lệ cũ, khiến cho thời ấy bia ấy chưa được dựng lên, thì làm sao có thể nêu cao thịnh sự của Nho khoa làm vẻ đẹp lớn cho đời nay và tỏ sự khuyến khích cho đời sau? Vì vậy sai đem họ tên các Tiến sĩ khoa này truy khắc lên đá tốt, sai bọn thần soạn bài ký ghi sự việc dựng tại cửa nhà Thái học, làm cho đầy đủ thịnh điển của triều đình.
Bọn thần vụng về bỉ lậu, đâu đủ văn từ để phô trần đại sự. Nhưng ngước nghĩ thánh thiên tử đã ban ơn huệ cho nhân tài, lo nghĩ cho tư văn thế đạo, nêu quy củ lớn lao khuôn mẫu tốt đẹp để dành cho hậu thế, bọn thần kính cẩn vâng tuân lời ngọc, khôn xiết cảm kích, tột bậc vui mừng, kính cẩn cúi đầu rập đầu dâng lời rằng:
Bề trên đặt khoa thi, cốt để thu hút nhân tài, đâu phải chỉ để trông vào cho đẹp mắt. Kẻ dưới đăng tên dự thi là để theo bậc thang mà bước lên đường huân nghiệp, đâu phải để mưu cầu danh lợi. Bởi vì nền chính sự tốt đẹp của quốc gia không có nhân tài thì không thể gây dựng được, mà kẻ sĩ hào kiệt ắt phải do khoa cử thì mới có dịp tiến thân. Kể từ đời Thành Chu đã nhận thư tiến cử người hiền, từ đó bắt đầu có sự tuyển chọn những người được tiến cử11. Về sau trải đến các đời Đường, Tống có khi gọi là bảng Long hổ, có khi gọi là khoa tướng võ tướng văn12. Trải xem các đời đế vương anh minh tài giỏi từ xưa muốn dựng nền trí trị đều phải lấy sự thu hút nhân tài làm cốt yếu, không đời nào không coi trọng khoa mục. Các văn nhân tài sĩ muốn lập huân danh sự nghiệp để lưu tiếng ở đời, đại để cũng do con đường khoa mục mà tiến thân, thế thì khoa mục đặt ra là có nguyên do của nó.
Ngày nay quốc triều thánh tổ thần tông khai sáng chế độ, giữ gìn thành tựu, lưu tâm thu nạp hiền tài, đặt ra Chế khoa mở thi Tiến sĩ, đề tên dựng đá có bài ký khắc bia, là cốt để làm gương soi làm rùa bói cho trăm đời, làm quy trình phép tắc cho muôn thuở, rất mực sáng suốt vậy.
Từ khi Trung hưng đến nay các khoa thi Tiến sĩ vẫn được cử hành đều đặn, nhưng việc khắc đá đề danh thì chưa kịp cử hành. Nay chính là lúc cần phải làm việc đó.
Kính nghĩ: Thánh thượng khôi phục khuếch trương công cụ trị đạo, trọng dụng Nho khoa, máy cổ vũ thần diệu như sấm chớp, lò khoa danh hun đúc anh tài, xưa đề tên tháp Nhạn, nay có khuôn mẫu bia rùa13, đủ thấy Thánh thượng chuộng phép tuyển đầu Ngao14, thể hiện ra vẻ sáng lông phượng, bia đá cao ngất dựng bên trường Giám, ý đẹp tôn Nho xem ra có phần hơn xưa. Những người được đề danh lên tấm đá này thật vẻ vang may mắn biết bao !
Hãy lấy khoa này mà tìm xem sự nghiệp của các vị đại thần thuở trước, thì thấy có người được như Trọng Yêm, Thuần Nhân cha con một lòng15, có người được như Tắc, Tiết, Dao, Quỳ16 vua tôi hiệp đức; có người hiểu sâu biết rộng, có kiến thức như mai rùa cỏ thi17, có người phẩm tiết cứng cỏi đảm đương trọng trách như trụ đá của triều đình, [......] truyền bá huân nghiệp lừng lẫy, lưu lại tiếng khen vô cùng, danh thơm còn mãi bất hủ. Thảng hoặc có người trước sau sai lệch, ngoài ngọc trong đá, cái người ta xem đọc không như điều nghe đồn, việc đã làm trái với sở học, thì hiền hay không hiền, trung tà rõ rệt, phải trái nên hư ranh rành, tì vết trên ngọc không thể che lấp, làm sao tránh khỏi cười chê muôn đời? Thế thì, bia đá này dựng lên giúp ích được rất nhiều: người thiện có thể xem để được khuyến khích, kẻ ác có thể lấy đó làm răn, tỏ ý khen chê đối với việc trước, để lại khuyên răn cho đời sau, trau dồi danh tiết sĩ phu cả trăm ngàn năm, mệnh mạch nước nhà vững bền muôn vạn thuở. Việc làm của Thánh thượng há phải ngẫu nhiên đâu! Những ai xem đọc bia này, đều nên biết ý nghĩa sâu sắc đó.
Bọn thần kính cẩn làm bài ký.
Dực vận Tán trị công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Lễ bộ Thượng thư kiêm Hàn lâm viện Thị giảng Tham Chưởng Hàn lâm viện sự Bạt Quận công Thượng trụ quốc Dương Trí Trạch vâng sắc nhuận.
Quang tiến Thận lộc đại phu Hàn lâm viện Hiệu lý Vinh Giang nam Nguyễn Văn Lễ18 vâng sắc soạn.
Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Trung thư giám Điển thư, người ấp Thụy Khuê huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai là Gia Thụy tử Nguyễn Tuấn Đắc vâng viết chữ (chân).
Quang tiến Thận lộc đại phu Kim quang môn Đãi chiếu kiêm Triện thích thái thừa, Quế Lan nam Nguyễn Quang Độ vâng viết chữ triện.
Bia dựng ngày 16 tháng 11 niên hiệu Thịnh Đức thứ 1 (1653) Hoàng Việt.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 2 người:
TRỊNH CẢNH THỤY 鄭景瑞19 người xã Chân Bái huyện Yên Định.
NGÔ TRÍ HÒA 吳致和20 người xã Lý Trai huyện Đông Thành.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 1 người:
NGÔ TRÍ TRI 吳致知21 người xã Lý Trai huyện Đông Thành.
Chú thích:
1. Miếu hiệu của Trịnh Tùng.
2. Miếu hiệu của Trịnh Kiểm.
3. Thang Mộc ấp, chỉ Thanh Hóa nơi khởi phát sự nghiệp trung hưng của nhà Lê.
4. Ngô Trí Tri và con là Ngô Trí Hòa cùng đỗ khoa này.
5. Nguyên văn: “Lục hợp”, tức trời đất và bốn phương.
6. Chỉ vua Lê Thần Tông.
7. Trùng Hoa, mỹ danh đời sau tôn gọi vua Thuấn.
8. Nguyên văn dùng chữ trong Kinh Thư: "Duy tinh duy nhất ". Vua Thuấn bảo Vũ: Phải tinh tế chuyên nhất, kính giữ trung đạo (Thư kinh, Đại Vũ mô).
9. Tước phong của Trịnh Tráng năm 1629. Bia viết và khắc dựng năm 1653 khi Trịnh Tráng còn tại vị tôn gọi theo tước hiệu này, phải đến năm 1657 sau khi mất mới có mỹ tự gia phong: "Đại nguyên súy Thống quốc chính Thượng chủ Sư phụ Công cao Thông đoán Nhân thánh Thanh vương".
10. Tước phong của Trịnh Tạc.
11. Nguyên văn: "Tiến sĩ chi tuyển". Từ Tiến sĩ ở đây có nghĩa là những người được tiến cử. Còn tên gọi khoa thi Tiến sĩ (Tiến sĩ khoa) thì mãi sau đến đời Tùy Dạng đế năm Đại Nghiệp thứ 2 (606) mới bắt đầu đặt ra.
12. Nguyên văn: “Tướng, tướng chi khoa”. Vì là 2 từ Hán Việt đồng âm "tướng (tức tướng võ) và "tướng " tướng văn) nên chuyển dẫn theo nghĩa.
13. Nguyên văn là "quy đồ" tức tranh rùa. Tác giả dùng chữ "quy đồ" để đối với "Nhạn tháp".
14. Ngao là con rùa biển lớn trong thuyền thuyết. Thời khoa cử thường gọi Trạng nguyên là người độc chiếm đầu ngao.
15. Phạm Trọng Yêm và Phạm Thuần Nhân là cha con, đều là danh thần của triều Tống. Tác giả bài văn này muốn đem cha con Ngô Trí Hòa và Ngô Trí Tri trong khoa này sánh với cha con Phạm Trọng Yêm.
16. Tắc, Tiết là hai vị hiền thần đời Ngu Thuấn.
17. Nguyên văn: thi, quy, là hai vật người xưa dùng để xem bói, học trò thường coi thầy học như mai rùa cỏ thi của mình.
18. Nguyễn Văn Lễ (1605-?) người xã Dương Trai huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh). Ông giữ các chức quan, như Tả Thị lang Bộ Hình, tước Vinh Giang nam, Tả Thị lang Bộ Hộ, tước Vinh Giang tử. Ông là tác giả 4 bài văn bia Tiến sĩ, khoa 1592, khoa 1595, khoa 1604 và khoa 1640.
19. Trịnh Cảnh Thụy (?-?) người xã Chân Bái huyện Yên Định (nay thuộc huyện Thiệu Yên tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Thừa chính sứ, tước nam.
20. Ngô Trí Hòa (1565-1626) người xã Lý Trai huyện Đông Thành (nay thuộc xã Diễn Kỷ huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An). Ông là con của Ngô Trí Tri và là cha của Ngô Sĩ Vinh. Ông làm quan Hiệp mưu Tá lý Dực vận Tán trị công thần, Thượng thư Bộ Hộ kiêm Quốc tử giám Tế tửu, Thiếu bảo, Phú Xuân hầu và từng đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Khi mất, ông được tặng tước Xuân Quận công.
21. Ngô Trí Tri (1537-1628) người xã Lý Trai huyện Đông Thành (nay thuộc xã Diễn Kỷ huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An). Ông là cha của Ngô Trí Hòa và ông nội Ngô Sĩ Vinh. Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
(javascript:window.print())
Powered by vBulletin® Version 4.1.5 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.